Lời Ngỏ

08/09/201805:55(Xem: 7578)
Lời Ngỏ
VẠN DẶM RONG CHƠI,
ĐƯỜNG RỘNG MỞ
của Thích Từ Lực
chùa Phổ Từ, 2015
 

Lời Ngỏ

Có trường hợp mà đôi khi người ta cảm thấy tiếc không còn hăng hái, nhiệt hứng của tuổi thanh xuân khi bắt tay vào những việc mà thông thường đòi hỏi phải cân nhắc kỹ. Đó là lúc ở lứa tuổi sáu mươi, kinh nghiệm và trí năng dạy ta biết khôn ngoan, lịch lãm hơn trong xử thế, chín chắn hơn trong hành động. Tôi nghiệm ra mình đã trải qua tiến trình tâm lý trên khi bước vào tuổi “nhi nhĩ thuận” những lúc bùi  ngùi nhìn lại trong một số trường hợp, cái nhiệt hứng mạnh mẽ năm nào đã được đánh đổi bằng điều mà người đời ca tụng là sự già dặn trong suy  nghĩ của người có tuổi.

Thực ra khoảng cách tuổi tác không đem lại những dị biệt lớn lao trong tôi trong suy nghĩ hay hành động. Bởi bản tính cầu toàn ngay từ tuổi trẻ, nên bên cạnh lòng nhiệt thành thúc đẩy vẫn còn những toan tính cần thiết để đạt được thành quả mong muốn. Nghĩa là trên thực tế, lòng hăng say không thiếu nhưng không vì thế khiến mình thành kẻ không lượng được sức mình, “bạo hổ băng hà” – tay không bắt cọp dữ, không bè mà dám vượt qua sông rộng.

Khi được sáu mươi tuổi trời, nhìn lại, tôi cũng mừng rằng ở tuổi thanh xuân, nhiệt huyết không thiếu để không chùn bước hay từ nan những việc khó khăn nhưng cũng đủ tỉnh táo để tránh những điều được xem táo bạo, đi trước quá xa những suy nghĩ thông thường của đại chúng.

Thực tế, ít ai theo gót được thiền sư  Đơn Hà trong việc bày tỏ ẩn dụ về tính chất rốt ráo của tinh thần vô sở trụ khi bảo đệ tử chẻ tượng Phật bằng gỗ để sưởi ấm đêm đông. Cũng như ta khó có thể lặp lại hành động mang tính chất biểu tượng của người xưa về ý nghĩa vô thường của vạn pháp bằng việc mạnh mẽ khước từ mọi tiện ích cần thiết cho sự nghiệp tu trì - một mình trong am lạnh với vò nước. Thế nhưng, ở vào lứa tuổi này, trên hết và trước hết, tôi cũng ý thức được tính chất tạm bợ, phù du của mọi sự việc kể cả những thành tựu đạt được, không khác chi đám mây bay trên khung trời cao rộng - đến và rời khỏi cuộc đời như một lần rong chơi mà thôi.

Trong tập sách, ngoài suy  nghĩ như trên và những phút cao hứng hướng về mây trời mà gửi gắm nỗi niềm, tôi còn ghi lại một số kỷ niệm thân thương và lòng biết ơn đối với bạn bè, đặc biệt với một số bạn trẻ cùng chí hướng tu thân hành thiện, sống cho tha nhân, từng nguyện góp bàn tay làm đẹp cuộc đời.

Mấy chục năm qua, tôi nhờ duyên lành được gặp gỡ, tiếp xúc, hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với nhiều cá nhân cũng như đoàn thể thân hữu tại nhiều nơi, nhiều chốn và có thể tóm lược trong mấy đối tượng sau:

PHẦN I: TỔ CHỨC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

Đây là tổ chức giáo dục tuổi trẻ được khai sinh ở Việt Nam trên 60 năm và hiện tại vẫn tiếp tục phát triển hoạt động tại nhiều địa bàn, cùng theo bước chân người Việt trên khắp thế giới. Trong một đại hội Huynh trưởng, tâm tư tôi rung động biết bao khi thấy 60 lá cờ đại diện cho 60 đơn vị sinh hoạt ở Hoa Kỳ tung bay trước gió. Lòng thật vui mừng để thấy đoàn thể này lớn mạnh và góp phần giáo dục tuổi trẻ ở xứ người. Đến với nhau trong tình Lam, chúng tôi gọi nhau là anh chị em trong ngôi nhà của Phật, cùng nuôi dưỡng tình thương yêu và tạo dựng thêm tình đoàn kết.

PHẦN II: TRẠI TỈNH THỨC

Là một hình thức sinh hoạt mới ra đời trong vài ba năm thôi nhưng Trại Tỉnh Thức đã mở ra một đường hướng mới thích hợp với thanh niên nam nữ trên 18 tuổi đến với đạo Phật bằng việc thực tập chánh niệm và tìm thấy niềm vui trong đời sống hàng ngày. Từ đó, họ phát tâm giúp đời qua lối sống giản dị, bớt nhu cầu vật chất, dành thì giờ phụng sự tha nhân. Hàng năm có một kỳ trại để mọi người có cơ hội đến với nhau giữa thiên nhiên, trong tình người cao quý.

PHẦN III: VỚI ĐẠI CHÚNG

Đây là con đường tâm tư mở rộng cho riêng cá nhân mình nhưng cùng lúc tích lũy biết bao tình thân tuyệt vời, đầm ấm trong chặng đường 20 năm hoằng hóa. Kỷ niệm đáng nhớ thường nhỏ bé, đơn sơ nhưng đa dạng, đã khắc sâu không ngờ trong tâm tưởng. Nào là con tem mấy chục xu nhưng thật khó kiếm ra vào lúc cần gửi thư cho bạn, bất ngờ được một chị người Công giáo trao cho tận tay. Nào là lúc ngồi lặng yên giữa khoảng rừng già cô tịch tiểu bang North Dakota, lắng nghe kể lể nỗi lòng của những em thiếu thốn hơi ấm gia đình - những trẻ mồ côi – mà cảm thấy thiên nhiên đồng cảnh cũng ngậm ngùi. Ngược dòng thời gian, là những ngày còn vùi đầu với sách vở, những ước mơ chớm nở hay lãng đãng thuở ấy nơi sân trường đại học, là những gia tài quý báu mà tôi chẳng hề có ý định khước từ.

Bên tập sách đã tượng hình, ít gì cũng hiện thân một phần suy nghĩ, tình cảm và ước mơ được gửi gấm, tôi không quên ngỏ lời cám ơn đến những người bạn tốt, thiện hữu tri thức, đã thương mến, cùng giúp đỡ để tập sách này ra đời. Đặc biệt là hình ảnh của anh Trần Mạnh Toàn và cô Diệu Châu của nhà in Focus là những người trực tiếp đóng góp cho công việc: dành nhiều thì giờ để trình bày, đọc lại bản thảo và in thành sách.

Mời bạn cùng tôi rong chơi vài dặm đường và xin đừng quên trên môi nụ cười bao dung, thông cảm.

Hayward những ngày đầu năm Ất Mùi, 2015

Thích Từ Lực

cẩn đề



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 895)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1069)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2398)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1569)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 2100)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1499)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2021)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4153)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5307)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4941)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S