Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 64. Kinh Thủ Lăng Nghiêm

21/12/201721:10(Xem: 59)
Bài 64. Kinh Thủ Lăng Nghiêm

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

GIẢI NGHĨA

TOÀN KHÔNG

(Tiếp theo)

 

6- TU NHĨ CĂN: 

Các câu kệ 53 đến 56:

 

53- Đại chúng và A Nan,
Xoay cái văn điên đảo.
Phản văn bản tánh văn, (2)
Mới thành vô thượng đạo,
54- Viên thông thật như thế.
 Đây là vô số Phật,
Một cửa vào Niết Bàn.

Quá khứ chư Như Lai,
55- Do cửa này thành tựu,
Hiện tại chư Bồ Tát.
Mỗi mỗi vào diệu minh,
Người tu học vị lai,
56- Nên y theo pháp này.
Chẳng những Quán Thế Âm,
Ta chứng cũng cửa này,
Đúng như lời Thế Tôn,

GIẢI NGHĨA:

 

(2) Phản văn bản tánh văn: Phản: Là trái, xoay lại, tự xét; Văn: Nghe, điều nghe biết. Phản Văn: Là trái với điều nghe, tự xét điều nghe.

Phản văn bản tánh văn: Muốn cái nghe là chân thật thì không nghe ngoài nghe trong, không nghe động nghe tịnh; nghe trong, ngoài, động, tịnh, đều là bỏ gốc theo ngọn, nên gọi là cái nghe điên đảo. Phải quán xét cái nghe điên đảo này xem nó là chính hay tà, nếu là chính thì chẳng có sức nghe và nơi chỗ nghe (năng văn, sở văn), như vậy mới gọi là Phản văn, cũng là xoay cái nghe về gốc tính nghe (Bản tánh văn). Khi đã được nghịch cảnh trần hợp tính biết (giác tánh) thì gọi là chính; cũng gọi là trở về gốc nghe (bản văn) thì thấy “bản lai diện mục”, tức là tính nghe này liền thành vô thượng giác.

     Chư Như Lai qúa khứ do một cửa này thành tựu vô thượng, vô số Chư Phật một cửa này nhập bản thể, tự tính (vào Niết Bàn), hiện tại Chư Bồ Tát đều đạt trí tuệ siêu việt (vào diệu minh). Chẳng những Quán Thế Âm, chính ngài Văn Thù chứng cũng cửa này, người tu học vị lai nên tu theo pháp này như lời Phật dạy.

7- TÓM KẾT:  Các câu kệ 57 đến 61:

 

57- Hỏi về các phương tiện,
Để cứu độ mạt kiếp,
Người cầu pháp xuất thế,
Thành tựu tâm Niết Bàn,
58- Quán Thế Âm hơn cả.

Ngoài ra phương tiện khác,
Đều là oai thần Phật,
Sâu cạn tùy cơ thuyết,
59- Khiến xả bỏ trần lao.
Chẳng phải lối tu chánh.
Đảnh lễ Như Lai tạng,
Vô lậu bất tư nghì,
60- Nguyện giúp đỡ đời sau,
Chẳng lầm nơi cửa này,
Phương tiện dễ thành tựu,
Để dạy cho A Nan,
61- Và chúng sanh mạt kiếp,
Cứ theo căn này tu,
Viên thông hơn pháp khác,
Thế là tâm chân thật.

GIẢI NGHĨA:

 

     Đoạn kệ tóm kết Bồ Tát Văn Thù nói đại ý: Như lời Thế Tôn hỏi về các phương tiện để cứu độ kẻ ở thời mạt kiếp cầu pháp xuất thế, thành tựu tâm Niết Bàn, thì pháp tu Quán Thế Âm hơn hết.

     Ngài cho biết: Ngoài cách tu Nhĩ Căn ra, nếu tu hành theo các phương tiện khác, đều là oai thần Phật, chẳng phải lối tu chính; sâu cạn tùy cơ thuyết, khiến xả bỏ trần lao, đạt không dính mắc chẳng thể nghĩ bàn (vô lậu bất tư nghì),
     Ngài Bồ Tát Văn Thù mạnh mẽ thệ nguyện bảo cho Tôn giả A Nan và chúng sinh đời sau như chúng ta ngày nay, chẳng nên lầm lẫn bỏ cửa dễ thành tựu này, tu Nhĩ Căn được viên thông tâm chân thật hơn hẳn các pháp khác.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

3. NHẬN THỨC TÍNH

ƯU VIỆT CỦA NHĨ CĂN:

     A Nan cùng đại chúng được khai thị lớn, thân tâm sáng suốt, rõ biết đạo Bồ Đề và Đại Niết Bàn, cũng như có người đi xa, dù chưa được trở về, nhưng đã biết rõ con đường về nhà. Đại chúng trong hội với Thiên Long Bát Bộ, hàng nhị thừa hữu học và tất cả Bồ Tát mới phát tâm, gấp mười lần hằng sa, đều nhận được bản tâm, xa lìa trần cấu, được pháp nhãn trong sạch. Tỳ Kheo ni Tánh nghe bài kệ xong, liền đắc quả A La Hán, vô số chúng sanh đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.


GIẢI NGHĨA:

 

     Sau khi nghe kệ phân tích, so sánh một cách minh bạch của Đại Bồ Tát Văn Thù Sư Lỵ, tất cả từ Tôn giả A Nan, đến Thiên Long Bát Bộ, hàng Thanh Văn hữu học, và hàng Bồ Tát mới phát tâm, đều được sáng suốt, biết rõ đạo giải thoát, xa lià dính mắc trần cảnh (trần cấu), được pháp hướng dẫn để đạt tâm trong sạch. Tỳ Kheo Ni Tánh sau khi nghe bài kệ xong liền đắc bậc Thánh, qủa thứ tư A La Hán, vô số chúng sinh phát tâm tu để đạt bậc giác ngộ không bậc nào cao hơn (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác).

 

3). PHẬT DẠY 3 MÔN VÔ

      LẬU, 4 ĐIỀU CƠ BẢN:

 

1. BA MÔN VÔ LẬU:

     A Nan ở trong chúng sửa áo chỉnh tề, chắp tay đảnh lễ, nơi tâm sáng tỏ, lòng bi hoan hỷ. Vì muốn lợi ích cho chúng sanh vị lai, cúi đầu bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Nay con đã ngộ pháp môn thành Phật, theo đó tu hành, chẳng còn nghi hoặc. Con thường nghe Như Lai nói: tự mình chưa ngộ mà độ người khác trước, ấy là chỗ phát tâm của Bồ Tát; Tự Giác đã trọn, hay giác ngộ người khác, ấy là sự độ thế của Như Lai. Con dù chưa được ngộ, nhưng nguyện độ tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp. Thế Tôn, những chúng sanh này cách Phật ngày càng xa, bọn tà sư thuyết pháp như hằng sa, muốn nhiếp tâm họ nhập Tam Ma Địa, thì nên khiến họ dựng lập đạo tràng như thế nào để xa lìa các ma sự, được chẳng lui sụt nơi tâm Bồ Đề.
     Bấy giờ, Thế Tôn ở trong chúng khen ngợi A Nan:
- Lành thay! Lành thay! Như ông hỏi về sự an lập đạo tràng, cứu giúp chúng sanh chìm đắm trong đời mạt pháp, ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói.
     A Nan và đại chúng kính vâng lời dạy của Phật.
     Phật bảo A nan:
- Ông thường nghe ta khai giảng ba nghĩa quyết định của sự tu hành trong Luật Tạng, ấy là: Nhiếp tâm thành giới, từ giới sanh định, từ định phát huệ, gọi là ba vô lậu học.
- A Nan! Làm sao nhiếp tâm gọi là Giới?
- Nếu chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm chẳng dâm dục, thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.
- Người tu chánh định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi, dẫu cho có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu chẳng đoạn dâm, ắt phải lạc vào ma đạo, hạng trên thành ma vương, hạng giữa thành ma dân, hạng dưới thành ma nữ. Bọn ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng, sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp, bọn ma dân này sôi nổi trên thế gian, thịnh hành tham dâm, tự xưng là Thiện tri thức, khiến chúng sanh sa vào hầm ái kiến, lạc mất đạo Bồ Đề.

GIẢI NGHĨA:

 

      Cho đến đây, Tôn giả A Nan Đà và đại chúng đã thu nhận những lời dạy bổ ích, chỉ còn việc phải làm là tu hành để đạt qủa giác ngộ (Bồ Đề). Tôn giả trước Phật đã phát ra lời nguyện rộng lớn rằng: “Dù chưa được ngộ, nhưng nguyện độ tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp”. Rồi Tôn giả trình bày trong các đời sau, chúng sinh cách Phật ngày càng xa, bọn tà sư thuyết pháp nhiều vô số (như hằng sa), muốn hướng dẫn (nhiếp tâm) họ nhập Tam Ma Địa, thì nên khiến họ dựng lập đạo tràng như thế nào để xa lìa các việc sai trái (ma sự), được chẳng lui sụt nơi tâm giác ngộ?
     Đức Phật trả lời đại ý rằng: Muốn an lập đạo tràng, cứu giúp chúng sinh chìm đắm trong đời mạt pháp, thì phải hành trì ba nghĩa quyết định của sự tu hành trong Tạng Luật, đó là: Nhiếp tâm thành giới, từ giới sinh định, từ định phát huệ, gọi là “ba vô lậu học: Giới Định Huệ” tương quan mật thiết với nhau. Giữ tâm không dính mắc, xa lià phân biệt vọng thức, đó là nhiếp tâm giữ giới, nhân giới sinh định, nhân định phát huệ, đó là nền tảng để đi tới Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Nếu chúng sinh sáu đường (lục đạo) trong thế giới, tâm không dâm dục, thì chẳng theo dòng sinh tử tương tục. Người tu chính định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi, dẫu cho có trí thiền định hiện tiền, nếu chẳng đoạn dâm, vẫn bị lạc vào đường ma vậy.

     

2. BỐN ĐIỀU CƠ BẢN:

 

(Còn tiếp)


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn