Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 35: Kinh Thủ Lăng Nghiêm

31/05/201720:52(Xem: 190)
Bài 35: Kinh Thủ Lăng Nghiêm

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

GIẢI NGHĨA

TOÀN KHÔNG

(Tiếp theo)

 

5 - TÁNH KHÔNG ĐẠI VỐN VÔ SINH

- A Nan! Tánh Không vô hình, nhờ sắc tướng mới được hiển bày. Như trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách xa sông, những dòng Sát Lî, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, Phả La Đọa, Chiên Đà La v.v... khi dựng nhà xong, đào giếng lấy nước, đào ra một thước đất thì có một thước hư không; như vậy cho đến đào ra một trượng đất thì lại được một trượng hư không, hư không sâu hay cạn là tùy theo đất đào ra được nhiều hay ít. Vậy hư không này từ đào đất ra, do đào mà có, hay vô nhân tự sanh?
- A Nan! Nếu hư không vô nhân tự sanh, thì khi chưa đào đất, sao nơi đó lại chẳng vô chướng ngại, mà chỉ thấy đất liền, chẳng thấy trống rỗng?
- Nếu từ đào đất ra, thì khi đất ra, phải thấy hư không vào; nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, thì sao nói hư không từ đào đất mà ra? Nếu chẳng ra vào thì hư không với đất vốn chẳng có khác, chẳng khác tức là đồng, thì lúc đào đất ra, hư không sao chẳng ra? Nếu do đào mà có, thì phải đào ra hư không, chứ chẳng phải đào ra đất; nếu chẳng do đào mà có, thì làm sao lại thấy hư không?
- Ông hãy xét kỹ, đào do tay người vận động, đất theo sự đào mà dời chỗ, vậy hư không từ đâu mà ra? Đào thì có thật chất, hư không thì trống rỗng, chẳng tác dụng với nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ hư không khi không tự ra?
- Vậy, tánh hư không cùng khắp, vốn chẳng lay động. Nên biết hiện tiền địa, thủy, hỏa, phong và hư không gọi là Ngũ Đại, tánh chất viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh diệt.
- A Nan! Tâm ông mê muội, chẳng ngộ được tứ đại vốn là Như Lai Tạng, ông hãy xem hư không là ra hay vào; hoặc chẳng ra vào? Ông còn chẳng biết trong Như Lai Tạng, tánh giác chân không, tánh không chân giác, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu.
- A Nan, như đào một giếng thì ra một giếng hư không, vậy mười phương hư không cũng như thế, tánh Không cùng khắp mười phương, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.

GIẢI NGHĨA

     Đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà rằng: “Tánh Không vô hình, nhờ sắc tướng mới được hiển bày. Như trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách xa sông, những dòng Sát Lị, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, Phả La Đọa, Chiên Đà La v.v... khi dựng nhà xong, đào giếng lấy nước, đào ra một thước đất thì có một thước hư không; như vậy cho đến đào ra một trượng đất thì lại được một trượng hư không, hư không sâu hay cạn là tùy theo đất đào ra được nhiều hay ít. Vậy hư không này từ đào đất ra, do đào mà có, hay vô nhân tự sanh?”

     Nghĩa là tính hư không vô hình, nhờ sắc tướng mới được hiển bày. Như trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách xa sông, những người giới cầm quyền (dòng Sát Lị), giới có học (Bà La Môn), giới buôn bán (Tỳ Xá), giới công kỹ nghệ thợ thuyền (Thủ Đà), giới nông dân canh tác (Phả La Đọa), giới làm công (Chiên Đà La) v.v... Khi họ dựng nhà xong, đào giếng lấy nước, đào đất đến đâu thì có hư không đến đó; như vậy hư không sâu hay cạn là tùy theo đất đào ra được nhiều hay ít. Vậy hư không này từ đào đất ra, do đào mà có, hay vô nhân tự sinh?

    Ngài nêu câu hỏi: “Nếu hư không vô nhân tự sanh, thì khi chưa đào đất, sao nơi đó lại chẳng vô chướng ngại, mà chỉ thấy đất liền, chẳng thấy trống rỗng?” Nghĩa là hư không không phải vô nhân tự sinh, vì khi chưa đào đất không thấy trống rỗng.

    Đức Phật giảng: “- Nếu từ đào đất ra, thì khi đất ra, phải thấy hư không vào; nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, thì sao nói hư không từ đào đất mà ra? Nếu chẳng ra vào thì hư không với đất vốn chẳng có khác, chẳng khác tức là đồng, thì lúc đào đất ra, hư không sao chẳng ra? Nếu do đào mà có, thì phải đào ra hư không, chứ chẳng phải đào ra đất; nếu chẳng do đào mà có, thì làm sao lại thấy hư không?
Nghĩa là không phải hư không do đào đất, vì không thấy hư không ra vào.

     Ngài tiếp: “- Ông hãy xét kỹ, đào do tay người vận động, đất theo sự đào mà dời chỗ, vậy hư không từ đâu mà ra? Đào thì có thật chất, hư không thì trống rỗng, chẳng tác dụng với nhau, chẳng hòa chẳng hợp, chẳng lẽ hư không khi không tự ra?” Nghĩa là sự đào và hư không chẳng hòa chẳng hợp, vậy hư không từ đâu mà có?

     Đức Phật dạy: “Tánh hư không cùng khắp, vốn chẳng lay động. Nên biết hiện tiền địa, thủy, hỏa, phong và hư không gọi là Ngũ Đại, tánh chất viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh diệt”. Nghĩa là tính hư không cùng khắp, vốn tịch tịnh (chẳng lay động). Nên biết hiện tiền đất, nước, lửa, gió và hư không gọi là Năm Đại, tính chất viên dung, đều là Tự tính (Như Lai Tạng), vốn vô sinh (chẳng sinh diệt)

     Ngài lưu ý: “Tâm ông mê muội, chẳng ngộ được tứ đại vốn là Như Lai Tạng, ông hãy xem hư không là ra hay vào; hoặc chẳng ra vào? Ông còn chẳng biết trong Như Lai Tạng, tánh giác chân không, tánh không chân giác, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu”. Nghĩa là vì tâm mê muội nên không hiểu được (ngộ) đất nước gió lửa (tứ đại) vốn là Như Lai Tạng, như hư không ra hay vào, hoặc chẳng ra chẳng vào. Vì Như Lai Tạng, tính biết (giác) chân không, tính không chân giác, tâm (tự tánh) vốn thanh tịnh, cùng khắp không gian đại vũ trụ (pháp giới), tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sinh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu.
     Ngài kết luận: “Như đào một giếng thì ra một giếng hư không, vậy mười phương hư không cũng như thế, tánh Không cùng khắp mười phương, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường”. Nghĩa là người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tính nhân duyên và tự nhiên, đều do tâm thức phân biệt suy lường mà ra; do đó Đức Phật nói: “Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật” là vậy.

6 - TÁNH KIẾN ĐẠI VỐN VÔ SINH

(Còn tiếp)


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn