Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 18. Kinh Thủ Lăng Nghiêm

01/02/201721:34(Xem: 447)
Bài 18. Kinh Thủ Lăng Nghiêm

KINH

THỦ LĂNG NGHIÊM

GIẢI NGHĨA

TOÀN KHÔNG

(Tiếp theo)

 

3). BỒ TÁT VĂN THÙ XIN PHẬT

GIẢNG THẤY & KHÔNG THẤY
     Lúc ấy, Pháp Vương Tử (1) Văn Thù Sư Lợi thương xót tứ chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
- Đại chúng trong Hội này chẳng ngộ hai nghĩa Thị, Phi Thị với Kiến Tinh và Sắc Không của Như Lai vừa hiển bày. Thế Tôn, những hiện tượng sắc không nơi trước mắt, nếu là kiến tinh thì phải chỉ ra được, nếu chẳng phải kiến tinh thì chẳng thể thấy. Nay chẳng biết nghĩa ấy do đâu, nên có kinh sợ chứ chẳng phải vì xưa kia thiện căn thiếu kém, mong Như Lai từ bi, phát minh những vật tượng và kiến tinh, trong đó chẳng có Thị và Phi Thị kia vốn là vật gì?

TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI

THẤY HAY CHẲNG THẤY


     Phật bảo Văn Thù và Đại Chúng:
- Mười phương Như Lai và Đại Bồ Tát tự trụ nơi chánh định, thoát khỏi căn trần, kiến tinh với sắc không, ý năng tưởng (2), tướng sở tưởng (3) vốn chẳng thật có, cũng như hoa đốm trên không, vậy kiến tinh và sắc không vốn là diệu thể trong sạch sáng tỏ của Vô Thượng Bồ Đề (4), sao lại có Thị hay Phi Thị ở trong đó? Văn Thù, nay ta hỏi ông, như ông là Văn Thù, lại có Văn Thù nào Thị Văn Thù hay Phi Thị Văn Thù chăng?
- Bạch Thế Tôn! Đúng thế, con là chân Văn Thù, chẳng Thị Văn Thù. Tại sao? Nếu có Thị tức có hai Văn Thù, mà nay chẳng phải không có Văn Thù, trong đó thật chẳng có hai tướng Thị và Phi.
     Phật nói:
- Bản kiến diệu minh với hư không và lục trần cũng đều như thế, vốn là chân tâm sáng tỏ, tròn đầy trong sạch của Vô Thượng Bồ Đề, vọng thành sắc không và kiến văn, như đệ nhị nguyệt, vậy cái nào là Thị nguyệt, cái nào là Phi nguyệt? Văn Thù, chỉ một chân nguyệt, trong đó vốn chẳng Thị nguyệt Phi nguyệt. Cho nên nay ông phát minh đủ thứ kiến tinh và cảnh trần, gọi là vọng tưởng, chẳng thể chỉ ra Thị hay Phi Thị. Vì giác tánh tinh diệu sáng suốt, nên khiến ông được vượt khỏi "chỉ và phi chỉ" vậy.

 

GIẢI NGHĨA

(1) Pháp Vương Tử: Cũng gọi là Trưởng tử, là Bồ Tát đứng đầu hàng đệ tử của Phật.

(2) Ý năng tưởng: Tưởng tượng của ý nhớ nghĩ.

(3) Tướng sở tưởng: Tưởng tượng về các hình dạng màu sắc.

(4) Vô Thượng Bồ Đề: Giác ngộ tột cùng, tối cao.

Kinh nói: “Lúc ấy, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi thương xót tứ chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
- Đại chúng trong Hội này chẳng ngộ hai nghĩa Thị, Phi Thị với Kiến Tinh và Sắc Không của Như Lai vừa hiển bày. Thế Tôn, những hiện tượng sắc không nơi trước mắt, nếu là kiến tinh thì phải chỉ ra được, nếu chẳng phải kiến tinh thì chẳng thể thấy. Nay chẳng biết nghĩa ấy do đâu, nên có kinh sợ chứ chẳng phải vì xưa kia thiện căn thiếu kém, mong Như Lai từ bi, phát minh những vật tượng và kiến tinh, trong đó chẳng có Thị và Phi Thị kia vốn là vật gì?”

     Đại ý, Đại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là đệ tử đứng đầu của Đức Phật, thấy bốn chúng ngơ ngác không hiểu, nên đã nêu vấn đề về hai nghĩa Thấy (Thị) và chẳng Thấy (Phi Thị) với  Cái Thấy (Kiến Tinh) và Sắc Không để xin Đức Phật giảng giải hầu giúp đại chúng thông suốt.

     Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù và Đại Chúng: “- Mười phương Như Lai và Đại Bồ Tát tự trụ nơi chánh định, thoát khỏi căn trần, kiến tinh với sắc không”. Nghĩa là mười phương Chư Phât và Đại Bồ Tát luôn luôn trụ tâm trong chính định, các Căn không dính mắc các Trần; tâm không chấp cái thấy (kiến tinh) với trần cảnh (sắc không). Tức là mắt với hình ảnh, tai với âm thanh, mũi với mùi hương, lưỡi với vị, thân thể với cảm giác, ý với pháp trần; phải coi “có như không, không như có, có tức là không, không tức là có” mà Bát Nhã Tâm Kinh đã nói “Sắc Không không hai” (bất nhị), chẳng có khác biệt. Như Kinh Hoa Nghiêm nói: "NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO", Sắc là do tâm tạo, KHÔNG cũng là do tâm tạo, hai cái đều không có Tự Tính nên nếu không chấp cái SẮC là thật thì SẮC TỨC LÀ KHÔNG, không chấp cái KHÔNG là thật thì KHÔNG TỨC LÀ SẮC; cũng là cái nghĩa không hai của Tự Tính, hai cái vốn không khác biệt chỉ vì chúng sinh có bệnh chấp thật nên mới phân biệt có SẮC có KHÔNG.

Đức Phật giảng: “Ý năng tưởng, tướng sở tưởng vốn chẳng thật có, cũng như hoa đốm trên không, vậy kiến tinh và sắc không vốn là diệu thể trong sạch sáng tỏ của Vô Thượng Bồ Đề, sao lại có Thị hay Phi Thị ở trong đó? Văn Thù, nay ta hỏi ông, như ông là Văn Thù, lại có Văn Thù nào Thị Văn Thù hay Phi Thị Văn Thù chăng?” Nghĩa là ý tưởng tượng (ýnăng tưởng) và nơi cảnh vật nhớ tưởng (tướng sở tưởng) là huyển ảo do người huyển tạo ra cũng như hoa đốm trên không do người mắt nhặm thấy, mà sự thật thì không có hoa đốm.

     Sắc uẩn với Không trong Ngũ uẩn vừa phân tích ở trên là không hai, thì bốn uẩn kia là: Thọ với cảm giác, Tưởng với hình ảnh, Hành với suy nghĩ, Thức với phân biệt cũng như vậy. Vậy cái thấy và trần cảnh vốn là “thể trong sáng” (diệu thể) trong sạch sáng tỏ của tỉnh thức, giác ngộ (Vô Thượng Bồ Đề), thì chẳng thể có Thấy (Thị) hay Chẳng Thấy (Phi Thị) ở trong đó. Cũng ví như ông là Văn Thù, thì chẳng thể có Văn Thù Thấy Văn Thù hay Chẳng Thấy Văn Thù vậy.

          Bồ Tát Văn Thù thưa: “- Bạch Thế Tôn! Đúng thế, con là chân Văn Thù, chẳng Thị Văn Thù. Tại sao? Nếu có Thị tức có hai Văn Thù, mà nay chẳng phải không có Văn Thù, trong đó thật chẳng có hai tướng Thị và Phi”. Nghĩa là sự thực thì có Văn Thù, nếu có Thấy (Thị) tức có hai Văn Thù, nếu chẳng thấy (Phi thị) tức chẳng có Văn Thù, mà thật ra chẳng phải không có Văn Thù, do đó thật sự thì chẳng có hai tướng Thấy và Chẳng Thấy.

     Đức Phật dạy: “- Bản kiến diệu minh với hư không và lục trần cũng đều như thế, vốn là chân tâm sáng tỏ, tròn đầy trong sạch của Vô Thượng Bồ Đề, vọng thành sắc không và kiến văn, như đệ nhị nguyệt, vậy cái nào là Thị nguyệt, cái nào là Phi nguyệt? Văn Thù, chỉ một chân nguyệt, trong đó vốn chẳng Thị nguyệt Phi nguyệt. Cho nên nay ông phát minh đủ thứ kiến tinh và cảnh trần, gọi là vọng tưởng, chẳng thể chỉ ra Thị hay Phi Thị. Vì giác tánh tinh diệu sáng suốt, nên khiến ông được vượt khỏi "chỉ và phi chỉ" vậy”.

    Nghĩa là gốc thấy sáng tỏ (Bản kiến diệu minh) với hư không và lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) cũng đều sáng tỏ, vốn là chân tâm, tròn đầy trong sạch của tỉnh thức giác ngộ (Vô Thượng Bồ Đề). Chỉ vì do vọng thành sắc không và thấy nghe (kiến văn), ví như mặt trăng thứ hai (đệ nhị nguyệt); vậy cái nào là Thấy trăng (Thị nguyệt), cái nào là Chẳng Thấy trăng (Phi nguyệt)? Nên biết: chỉ một mặt trăng thật (chân nguyệt), trong đó vốn chẳng Thấy mặt trăng cũng chẳng Chẳng Thấy mặt trăng (Thị nguyệt Phi nguyệt). Cho nên nay ông phát minh đủ thứ cái thấy (kiến tinh) và cảnh trần, đó gọi là vọng tưởng, chẳng thể chỉ ra Thấy (Thị) hay Chẳng Thấy (Phi Thị). Vì tính biết (tánh giác) tinh diệu sáng suốt, nên khiến ông (Văn Thù) được vượt khỏi “ngón tay và chẳng ngón tay” (chỉ và phi chỉ) vậy.

     Mục 3 về thấy và không thấy trongKinh Văn 5 này, Đức Phật giải thích thêm cho rõ ý nghĩa mà Ngài đã nói ở Mục 1 và 2 bên trên. Tất cả ý Kinh là không ra ngoài “Không Hai”, chỉ vì vọng thấy, vọng nghe, vọng tưởng, vọng tâm mà thành mặt trăng thứ hai, lại tưởng là mặt trăng thật, nên không thấy mặt trăng thật. Nếu không dính mắc, không chấp vào tất cả các vọng tâm cho đến khi được sạch sẽ thì chúng ta sẽ thấy được mặt trăng thật vậy.

4). PHÁ NHỮNG SAI LẦM

     ĐỂ RÕ TÁNH THẤY

(Còn tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn