Lời nói đầu

28/12/201622:25(Xem: 3626)
Lời nói đầu

 

Lời nói đầu

Trên bước đường lánh nạn cơn chiến chinh khốc liệt năm 1945, từ Trà Vinh về Cao Lãnh bằng xuồng chèo trên giòng sông Cửu Longhằng ngày tôi đã phải ngắm nhìn vài mươi xác người sình chương trôi lềnh bềnh trên giòng nước. Hình ảnh ghê rợn đó đã ám ảnh tôi suốt quãng đời thơ ấu. Tôi hằng khoắc khoải về thân phận bé bỏng của con người, và ước mong tìm ra giải đáp về lẽ sống chết qua tôn giáo. Do đó, tôi đã không ngần ngại viếng các ngôi thánh đường công giáo, Tin Lành và Cơ Đốc Phục Lâm để tìm hiểu. Thánh đường nào cũng đồ sộ nguy nga, quý vị linh mục và mục sư hùng biện, chương trình nghi lễ tươm tất, tổ chức thanh thiếu niên vui tươi, hợp với ban ca thánh điêu luyện…, nên đúng ra phải có sức lôi cuốn tuổi trẻ rất mạnh. Thế nhưng, dẫu cố gắng hết sức, tôi vẫn thấy mình xa lạ ngàn trùng với tôn giáo nầy. Nỗi niềm xa lạ đó, không phát sinh từ lý luận đúng sai, mà thật ra chỉ dựa vào một thứ trực giác mơ hồ khó giải thích. Tôi có cảm giác rằng, vĩnh viễn mình chỉ là người khách đứng bên ngoài chớ không thể nhập cuộc thành một con chiên ngoan ngoản được.

Mãi đến năm mười tám tuổi tôi mới đặt chân đến cổng chùa. Lần đó, tôi theo người bạn thân tên Trịnh hưng Vận đến chùa Linh Sơn, chợ Cầu Muối, Saigon do hòa thượng Thích Tắc Thuận trụ trì, để dự lễ sám hối. So với thánh đường, ngôi chùa tiều tụy nghèo nàn, tổ chức lượm thượm, không có ban ca nhạc, không phần thuyết giảng, không có ban “làm chứng đạo” nồng nhiệt chiêu dụ. Có lẽ nhờ vậy mà tôi dễ cảm thấy tự nhiên thoải mái. Tôi chiêm ngưỡng tượng Phật từ bi, tôi lặng nhìn thầy trụ trì hiền hòa từ ái, tôi lắng nghe tiếng chuông thanh thoát, tôi hòa hợp với niềm vui mộc mạc của những cụ bà Phật tửquê mùa… Và tôi bỗng khám phá rằng dường như tất cả những gì ở chốn nầy đều thân thương đều quen thuộc với tôi tự kiếp nào. Tôi lễ Phật trong niềm vui lạ lùng của một đứa con hoang đàng lạc lõng bất ngờ được quay về ngôi nhà xưa ấm êm. Dù chưa hiểu chút giáo lý, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi xin thọ tam quy ngũ giới và được thầy ban pháp danh Thiện Tâm, về sau, tôi chọn cho mình pháp hiệu Hư Thân. Hư thân vừa mang nghĩa là thân hư huyễn, vừa ngầm gợi lại hình ảnh đứa con hoang đàng hư hỏng về nhà, tâm trạng của tôi khi vừa “trở về” chùa.

Tôi bắt đầu tự tìm hiểu Phật giáo qua bộ Phật Học Phổ Thông của thầy Thiện Hoa. Khi nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, đến đoạn Đức Phật dạy vua Ba Tư Nặc : “Nầy Đại Vương! Thân thể mặt mày ông tuy già, mà cái thấy vẫn không già. Cái nào già thì cái ấy sẽ bị biến đổi sanh diệt; còn cái nào không già, thì không biến đổi sanh diệt! Nó đã không sanh diệt, thì làm sao bị luân hồi sanh tử được…”bất chợt lòng tôi rung động, một niềm vui mênh mang tràn ngập thân tâm tôi và đã kéo dài hàng tháng. Từ đó tôi vững tin rằng tôi vốn đã không sanh và cũng sẽ không bao giờ diệt. Tôi thường tìm đến chùa Aán Quang xin gặp thầy Thiện Hoa thỉnh thầy chỉ dạy những điều chưa thông suốt

Pháp nhủ thầy giản dị, dễ hiểu và có lẽ đã đi thẳng vào tâm tôi, nên bao năm tháng trôi qua, mà lời dạy của người vẫn hiển hiện sáng ngời trong tâm khảm. Tôi luôn luôn kính thầy là bậc ân sư đã khai mở cho tôi phát tâm bồ đềĐiểm tâm đắc mà tôi đón nhận nơi ân sư là tinh thần hài hòa dung hợp tông phái : thầy tu tịnh độ, nhưng trong tịnh lại tràn ngập thiền, giáo, mật. Về sau, có lúc tôi dành rất nhiều thời giờ để học hỏi và thực tậpthiền. Thế nhưng, càng nghiên cứu thiền, thì niềm tin của tôi đối với pháp môn tịnh độcàng tăng thêm phần kiên cố.

Sau năm 1963, tôi lại có duyên học Phật tại Viện Cao Đẳng Phật Học (tiền thân của Phân Khoa Phật Học, Viện Đại Học Vạn Hạnh). Tôi được quý thầy Nhất Hạnh, Thanh Từ, Minh ChâuThiên ân, Thanh Kiểm… cùng các vị cư sĩ như cụ Mai thọ Truyền, Nguyễn đăng Thục, Phan Khoang… giảng dạy. Đối với tôi, vị thầy đặc sắc nhất mà tôi học hỏi và chịu ảnh hưởng sâu đậm là thầy Nhất Hạnh. Tôi mang ứng dụng những điều thầy dạy vào cuộc sống hàng ngày và nhận thấy đã gặt hái rất nhiều lợi lạc.

Tôi ghi lại vài giòng vắn tắt về bước đầu học Phật, để nhân dịp nầy nói lên lòng thànhkính và biết ơn sâu xa của tôi đối với bổn sư, ân sư Thiện Hoa, quý thầy, quý bạn đã dạy dỗ và hướng dẫn tôi tìm về suối nguồn Phật Pháp.

Phật Giáo đã là niềm tinlẽ sống của tôi bao năm qua. Nhờ chỗ dựa tinh thần nầy mà khi giòng đời trắc trở, tôi không đến nỗi bị cái thắng thua, vinh nhục… làm xao xuyến, và vẫn có thể tìm được những giây phút thanh thản nhẹ nhàng. Từ khi lưu lạc xứ người, nghĩ đến thâm ân Tam Bảo, tôi hằng ước nguyện sẽ làm điều gì để góp phần nào vào công cuộc hoằng dương đạo phápNhân duyên tình cờ đưa đến khi quý thầy kêu gọi tôi viết bài cho một tập san Phật giáo. Tôi đắn đo định viết bài khảo cứu, nhưng cuối cùng tôi thử chọn thể truyện ngắn phảng phất chút hương vị đạo, và cứ thế mà tiếp tục sản xuất cho đến ngày nay. 

Với tôi, viết truyện đạo là một phương cách biểu lộ niềm tin sâu xa vào Phật Pháp, vừa có cơ hội nhìn lại chính mình để tu dưỡng thân tâm. Khuyết diểm của truyện ngắn là, do nhu cầu câu chuyện, phần giáo lý không thể trình bày đầy đủ, rõ ràng và có thứ lớp, do đó, bạn đọc nên thận trọng, tránh tiếp thu một cách dễ dãi. Qua những mẩu chuyện đạo, tác giả chỉ ước mong gởi đến người đọc chút hương đạo nhẹ nhàng và nếu may mắn, có vị nào nhân đọc truyện mà hứng thú tìm hiểu sâu rộng Phật Pháp, thì hân hạnh cho tác giả biết bao. Ngoài ratác giả cũng xin lưu ý bạn đọc là một truyện ngắn, dù đã được dựa vào sử liệu và nhân vật có thật, thì tình tiết cũng bị thêm bớt và nhồi nắn lại nên phải được coi là một sản phẩm tưởng tượng.

Nhân đây, tác giả xin có lời cảm tạ quý thầy, quý thân hữu và bạn đọc đã hướng dẫn, khuyến khích, cung cấp tài liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành các tập truyện.

Tác giả đặc biệt xin chân thành tri ân hòa thượng Đức Niệm, vị thầy đã hết lòng khuyến khích nâng đỡ tác giả sáng tác. Không có sự yểm trợ của hòa thượngchắc chắn tác giả đã ngưng viết từ lâu.

Trân trọng
Tháng 7.1998 
Hư Thân Huỳnh trung Chánh 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/03/2026(Xem: 546)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 990)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1217)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2610)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1704)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 2496)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1733)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2264)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4442)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5536)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.