Tản mạn những ngày đông

10/04/201311:47(Xem: 6244)
Tản mạn những ngày đông

muadong_1

Tản mạn những ngày đông

Lam Khê

---o0o---

Tạp bút

1- Trời đã sang đông. Tôi thường nghĩ vậy khi những cơn gió bấc vừa thổi qua, và nhìn lốc lịch trong năm chỉ còn lại vài chục tờ mỏng manh. Ơû cái thành phố phương nam nhộn nhịp này mà nói đến mùa đông, nghe ra chẳng mấy phù hợp. Về mặt địa hình địa lý quả là như thế. Nhưng với tâm lý chung mà hơn hết là trong dòng suy tưởng của tôi, thì mùa đông vẫn hiện hữu theo chu kỳ ở bất cứ nơi nào có sự sống. Còn nơi vùng đất vốn nổi tiếng hai mùa mưa nắng này cho đến cận ngày giáp tết, khí trời vẫn nóng bức khô khan. Thế mà người ta cứ thích gọi là trời đang lập đông, là tiết đông. Năm nào có được chút hơi hướm lành lạnh thì cảnh sắc phố phường như được khoát lên mình một màu áo mới. Đêm đông có khi là những giấc mơ dài thật đẹp- Vì ngày ngắn hơn đêm mà. Đêm đông làm ray rứt thêm nỗi buồn cho người xa xứ. Đêm đông lòng thoáng ngẩn ngơ theo cánh chim trời bay đi...mang theo bao mộng ước một đời người chưa qua hết.

Sáng sớm ngồi vào bàn viết, đầu óc minh mẫn nên ý tưởng dồi dào mặc sức tuôn trên từng trang viết. Nhưng tôi ít có dịp viết vào lúc tinh mơ như thế. Bởi sáng sáng tôi phải leo lên sân thượng tập thể dục, hoặc đi bộ trên con đường lộ trước mặt chùa. Đây là điều bắt buộc phải thường xuyên. Không hẳn vì sức khỏe, mà là việc làm tôi vốn ưa thích mỗi buổi sáng hoặc chiều tối. Lúc này tôi có cả một khoảng không gian vắng lặng để được nhìn, được suy tư mà không sợ những âm thanh ồn ào khuấy động. Nhất là những ngày cận đông, gió trời se lạnh( dù không lạnh thì cũng có gió) Con đường mới mở nên dòng xe cộ qua lại còn thưa vắng. Vào giờ này càng yên tịnh. Thi thoảng cũng xuất hiện vài tiếng rú ga ing ỏi của mấy tay yên hùng xa lộ nghe đến rợn người. Không ít lần vào tuần lễ cuối tháng, lúc đi qua dãy phố không ánh đèn đường, tôi bỗng đứng sững lại khi bắt gặp vầng trăng khuya chênh chếch trên bầu trời còn thẩm tối. Trăng thành phố hiếm hoi là vậy nên dù thế nào nó vẫn đẹp. Ôi! Đẹp lắm. Một mảnh trăng khuya soi cả lối đi về.

Đi bộ. Suy tư. Không gian trầm mặc theo lòng người. Với dòng chảy ngắn ngủi của thời gian ấy mà tôi có thể làm được bao điều- Ngoài việc đẩy lùi bịnh tật, thì đây là bước khởi đầu cho một tâm hồn an tịnh trong lành. Vừa đi, vừa hít thở, mọi suy nghĩ lắng sâu theo từng bước chân trải đều thoăn thoắt. Có nhiều ý tưởng hay đã hình thành trong đầu khi tôi đi thả bộ như thế. Ở đây tôi còn tìm thấy những con người đồng cảm. Ít ra là về phương diện đồng hành vì lợi ích ngày mai( Nhàø Nước lâu lâu thường tổ chức các cuộc đi bộ vì người nghèo là vậy) Những mẫu chuyện lượm lặt, những trang tin thời sự, văn hóa và cả thơ ca đi theo những con người ra đường (dân tri thức mà). Họ bàn thảo vô tư pha lẫn niềm tự hào tự mãn. Tiếng cười tràn ngập trên mọi ngõ đường gốc phố. Niềm vui bất chợt đến, khi người ta đón nhận cảnh yên bình trước ánh ban mai qua hơi thở trong lành chưa bị ô nhiễm bởi bụi đường khói xe. Một thân thể khỏe mạnh, một tâm hồn thanh thản biết yêu thương, chia sẻ và bằng lòng với những gì mình có. Hạnh phúc đôi khi rất đổi bình thường là vậy.

2- Mấy hôm nay thời tiết đang chuyển mùa. Trời buổi chiều thường thâm u và dịu mát. Khi đứng trên tầng hai chánh điện tôi mới cảm nhận rõ điều đó. Ở đây đôi khi cũng chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc thổi về, nên bầu trời thỉnh thoảng cũng se lại chút hanh hao giá buốt. Ba giờ chiều, tôi bước lên chùa đóng chuông. Một mình với trời đất mênh mông rộng thoáng( ở trên lầu cao, giờ này thường không có ai lai vãng) đủ cho tôi lắng động tâm tư theo từng tiếng đại hồng chung ngân vang trầm mặc. Trên bàn Phật bài trí đơn sơ mà vẫn trang nghiêm với đầy sắc hoa tươi cùng khói hương nhẹ bay theo chiều gió. Thiên nhiên đang lúc giao hòa nên tạo cảnh, hay lòng người trong tĩnh lặng mà hiện sinh ra muôn sắc hữu tình?

Chắc hẳn do cảnh lặng tâm yên nên lúc này tôi nghe từng tiếng chuông vừa đánh lên mang một âm điệu trầm hùng sâu lắng hơn mọi ngày. Mà quả thật như vậy. Khi muôn vật đều duy tâm sở biến, thì cảnh sắc trước mắt tôi lúc này cũng từ ý thức hóa hiện ra. Tiếng chuông lay vọng giữa hư không lại được cảm nhận từ tâm thức bình yên, nên vạn nẻo âm dương cũng lâng lâng niềm thoát tục. Qua giây phút tịnh tâm theo dòng cảm xúc, bất giác nhìn lên tượng Phật Bổn Sư và hình như tôi thấy ngài đang mỉm cười. Phật mỉm cười vì thương chúng sanh mê muội, tất bật suốt đời trong nẻo hư danh. Phật cười, một nụ cười an nhiên lạc vị trước cảnh sắc không. Nụ cười ấy ngàn năm trước ngàn năm sau vẫn hiện hữu trong tâm thức chúng ta. Vậy mà đến tận bây giờ tôi mới nhận ra được nụ cười an lạc luôn nở trên môi người tỉnh giác. Rồi như không muốn bỏ lỡ cơ hội...cùng mỉm cười với Thế Tôn, Tôi lại hướng nhìn đấng Đại Giác Đại Bi rồi sụp lạy, lòng hân hoan theo từng tiếng chuông chiều nhè nhẹ. Niềm vui động lại, ý tưởng bỗng miên man theo ngọn gió đông tàn...

Khung cảnh tịch nhiên này cũng không còn là của riêng tôi nữa. Từ lúc nào, chàng trai trẻ có tên là Phát đang quỳ trước Bảo Điện. Phát đến chùa hằng ngày, thường có mặt trước khi tôi lên đóng chuông, chỉ để lạy Phật rồi về. Lạy một cách thành khẩn. Khuôn mặt người thanh niên ánh lên nét hoan hỷ tự tại như đức Phật Di Lặc ( Mà cậu ta cũng có cốt cách và gương mặt như vậy lắm) Không gian sống của Phát vào lúc này là đoạn đường đi bộ từ nhà đến chùa( nhà gần chùa) Thời gian sống là ngay giây phút hiện tại quỳ dưới bóng từ tôn, với tất lòng được chiêm bái và lễ sám. Mồ hôi ra ướt đẫm mà vẫn tươi tắn trong nụ cười hàm tiếu. Một khuôn mặt tràn đầy ý xuân. Nhìn Phát bất giác tôi nhớ đến phong cách sống của vị thiền sư chứng ngộ, đã để lại bài thơ bất hủ qua bao mùa xuân đạo ...

“-Xuân qua trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già mất rồi

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai”

Đã biết sắc trần là mộng ảo, thì hoa rụng hoa cười cũng chỉ là hoạt cảnh giữa chốn phù hư; Vậy cớ chi lòng còn buồn vui trước việc xuân đến xuân đi mà hoài tưởng vu vơ về những gì đã mất. Mùa đông đang hiện hữu rồi sẽ qua. Nắng xuân chưa tới rồi sẽ tới. Nghĩ đến việc hoa rụng xuân tàn cũng chỉ mang tính ước lệ cho đời người thấm thoát. Bao cảnh tượng trước mặt, tiếng chuông chùa thoáng vọng bên tai và hình ảnh người thanh niên đang lạy Phật kia như ngầm bảo với tôi rằng:_Trong tiềm thức của mỗi người luôn có sẵn một mùa xuân vĩnh hằng bất diệt. Một mùa xuân không vướng bận thị phi nhân ngã, không bị vay mượn theo những sắc màu hư ảo phù du...

Chặng đường nào rồi cũng qua. Muôn sự đến đi mãi mãi là một vòng xoay bất tận trong cõi luân hồi. Duy chỉ có niềm vui trong ánh đạo mới giúp cho ta có được một nụ cười thoải mái an lành bên đức Phật từ bi luôn hiện hữu.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 771)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1762)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1258)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1610)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1210)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1789)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3352)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4598)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4157)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S