Đôi tượng Phật.

10/04/201311:41(Xem: 4724)
Đôi tượng Phật.

Đôi tượng Phật

Chiều dần buông, khách vãn chùa lần lượt ra về, chùa Bảo Quang trở lại ninh tịnh, yên ắng. Pháp sư Trí Thông bảo đám đệ tử hồi phòng ngơi nghỉ, còn tự mình quét dọn nhà chùa, phủi sạch bụi bặm trần ai, xua tan mọi huyên náo nóng nực của cả một ngày.

Khi đến bên tượng đồng Phật Tổ tọa ở hậu điện, làn chổi của Trí Thông khẽ chạm vào thân hình một người đang nằm co ro trên nền chùa và do đó khiến anh ta tỉnh giấc.

“Lạ thật, đến giờ này mà vị khách còn chưa chịu về?”. Trí Thông suy ngẫm, nghi hoặc. Người khách vội vàng đứng dậy, lễ phép thưa trình: “Tượng Phật đây vô cùng hiền từ sinh động, thần thái siêu phàm, thoạt trông đã không nén nổi cảm xúc nên vội vàng ghi lại đôi ba nét quý giá này. Đang khi lim dim suy nghĩ và thể hội hết vẻ đẹp diệu kỳ của pho tượng thì lạc vào cõi mộng lúc nào không hay và làm sư thầy bận tâm, thật có lỗi, dám xin sư thầy xá tội”.

Trí Thông đảo mắt nhìn người khách ăn bận giản dị, thân hình gầy gò với cặp kính trắng che đôi mắt long lanh, trên tay còn cả tập ký họa, nhà sư mỉm cười:“Con có thể cho ta xem những họa phẩm kia không?”.

“Dạ không dám, mong sư thầy đừng cười”, nói đoạn, người khách đưa cho Trí Thông tập ký họa. Quả nhiên trên trang giấy mỏng manh, những đường nét sinh động, hiền từ và cả thần thái siêu phàm của pho tượng Phật Tổ được khắc họa. Xem xong, ánh mắt Trí Thông ôn hòa trở lại, nhà sư hỏi: “Tượng Phật trong chùa có đến cả trăm, cớ sao con chỉ thích vẽ mỗi pho tượng này?”.

Người khách tươi cười: “Có thể con còn ngu dại, mong sư thầy bỏ qua, con mới dám nói… Theo con, các tượng khác đều là phàm tục, chỉ mỗi pho tượng này còn mang được đôi phần tiên khí.

Đầu óc Trí Thông bừng nóng, nhà sư nắm tay người khách, “Đi theo ta”, dẫn về phòng riêng của mình.

Trí Thông mời khách ngồi, dâng trà và nói: “Con thật có kiến giải, ta xem như thượng khách. Con thấy đấy, trong chùa này ngoài pho tượng đồng Phật Tổ, còn lại đều là giả!”.

“Đều là giả?”, người khách vặn hỏi.

“Những tượng Phật mà người trụ trì trước ta để lại, mười mấy năm nay đã hư hỏng, phải dựng mới. Nhưng thợ bây giờ khác trước xa, hồi ấy, tâm trung hữu Phật, thành tâm điêu khắc, bàn tay và tấm lòng là một, tạo nên tượng phẩm. Còn ngày nay, tâm trung vô Phật, chỉ nặn được hình hài mà không mang được thần sắc, âu cũng để lừa dối kẻ tục nhân. Những hoành phi, thư pháp treo ở đây cũng thế, toàn là bản sao, chính bản đã đưa về bảo tàng di tích (!) và đến cả hòa thượng cũng giả… con ạ (!)”.

“Sao? Hòa thượng cũng giả”.

“Ăn chay, mặc thiền mà lòng không quy Phật thì làm sao gọi là hòa thượng được? Ta có vài chục đệ tử nhưng chân tâm hướng Phật thì đã dễ mấy ai. Thân kề bên Phật mà lòng mong trần tục, cho nên họ cũng xem những Phật kia là giả, đều do đất đắp dựng và không cung kính”.

Người khách gật đầu lia lịa: “Sư thầy có lý, song những thứ giả ấy cũng không ngăn được tấm lòng thành của khách hành hương, mấy năm trở lại đây, nhà chùa vẫn đông vui, hương khói vẫn ấm áp kia mà?”.

“Cho nên ta không thể nhẫn tâm dùng cái giả để đánh lừa cái thật của mọi người. Nhưng trong những đoàn người hành hương vãn chùa đã mấy ai phân biệt được thật, giả?”. Nói đến đây Trí Thông đột nhiên đứng dậy: “Hiếm ai như con, có đôi mắt tinh tường, ta sẽ đưa con xem một cái thật nữa”.

Lát sau Trí Thông từ phòng trong bước ra, tay ôm hộp cẩm. Nhà sư mở hộp, lần giở lớp lụa mỏng thì hiện ra tượng Phật bằng ngọc, tư thế nằm nghiêng, đầu gối trên tay, kích thước cỡ bằng cuốn sách nhưng nom như hài nhi sơ sinh, sáng long lanh và vô cùng diễm lệ.

Người khách kinh ngạc, vội vàng đứng lên, mắt đắm vào ngọc Phật, hai tay giơ ra mà không dám chạm vào vật quý.

“Sao con?”.

“Tuyệt phẩm, vừa thoát khỏi trần tục, vượt lên thần khí, lại quy phục tự nhiên, con ngỡ Người sẽ nói điều gì, không dám chạm vào, sợ làm Người đau”.

Lòng Trí Thông xốn xang như lửa cháy, hận một điều là kẻ tu hành nên không tỏ bày tâm đắc cùng bạn tri âm kia.

“Con biết không? Ngọc phật bao giờ cũng thành đôi, pho kia còn tuyệt mỹ hơn pho này nữa”.

“Cầm bằng sư thầy cho xem ngọc Phật cả đôi thì dù cho từ hôm nay mắt con có vì thế mà mù lòa, không còn thấy gì nữa, con cũng cam lòng”.

Trí Thông vui mừng khôn tả, nhà sư lướt đi như bay, ôm ra hộp thứ hai…

… Khói trà vẫn nghi ngút tỏa lan, nhưng “kẻ tri âm” và ngọc Phật thì không còn nữa, vỏ hộp cẩm rơi xuống nền chùa.

Màn đêm buông xuống, chùa Bảo Quang ninh tịnh như bao năm xưa không dấu chân người.

Trí Thông mặt tràn lệ chảy, quỳ trước tượng Phật, mong tìm được một lời đáp từ trong khóe mắt và nụ cười hiền từ của Ngài, vì sao trên thế gian trần tục này, người ta xem cái giả là chân thật mà thờ phụng, chiêm ngưỡng, ngược lại cái thật lại cho là giả dối mà vứt bỏ, chối từ.

PHAN PHONG (Theo Tuyển tập Truyện ngắn Trung Quốc)

----o0o---

Nguồn: http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/9/119990/
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 561)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 787)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1932)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1272)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1634)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1216)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1819)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3385)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4197)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S