Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 17: Kinh Dược Sư giải nghĩa

16/12/201516:44(Xem: 1034)
Bài 17: Kinh Dược Sư giải nghĩa

Kinh Duoc Su Giai Nghia
KINH DƯỢC SƯ

GIẢI NGHĨA

(Tiếp theo)

Toàn Không

--- o ---

 

KINH VĂN 35:

TG A NAN HỎI, BT CỨU THOÁT NÓI VỀ SINH MẠNG SỐNG CHẾT VÀ 9 THỨ HOẠNH TỬ

 

Lúc ấy ông A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: "Thiện nam tử, tại sao cái mạng đã hết mà còn sống thêm được?"

Cứu Thoát Bồ Tát nói: "Này Đại Đức, Đại Đức há không nghe Như Lai nói có chín thứ hoạnh tử (1) hay sao? Vậy nên ta khuyên người làm phang và đèn tục mạng, tu các phước đức và nhờ có tu các phước đức ấy nên suốt đời không bị khổ sở hoạn nạn".
Ông A Nan hỏi: "Chín thứ hoạnh tử là những thứ chi?"

Cứu Thoát Bồ Tát trả lời: “Một là nếu có chúng hữu tình nào bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc, không người săn sóc, hay giá có gặp thầy lại cho uống lầm thuốc, nên bịnh không đáng chết mà lại chết ngang. Lại đang lúc bịnh mà tin theo những thuyết họa phước vu vơ của bọn tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt (2) trong đời, sanh lòng rúng sợ (3) không còn tự chủ đối với sự chân chánh, đi bói khoa (4) để tìm hỏi mối họa rồi giết hại loài vật để tấu với thần minh (5), vái van cùng vọng lượng (6) để cầu xin ban phước, mong được sống lâu, nhưng rốt cuộc không thể nào được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến (7) điên đảo nên bị hoạnh tử, đọa vào địa ngục đời đời không ra khỏi. Hai là bị phép vua tru lục (8), ba là sa đắm (9) sự chơi bời, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỉ đoạt mất tinh khí, bốn là bị chết thiêu, năm là bị chết đắm, sáu là bị các thú dữ ăn thịt, bảy là bị sa từ trên núi cao xuống, tám là bị đè chết vì thuốc độc, êm đối, rủa nộp, trù ẻo và bị quỉ tủ thi làm hại, chín là bị đói khát khốn khổ mà chết” Đó là chín thứ hoạnh tử của Như Lai nói, còn những thứ hoạnh tử khác nhiều vô lượng không thể nói hết được.

Lại nữa, A Nan, Vua Diêm Ma kia là chủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi tội phước trong thế gian. Nếu có chúng hữu tình nào ăn ở bất hiếu (10), ngũ nghịch (11), hủy nhục ngôi Tam Bảo (12), phá hoại phép vua tôi (13), hũy phạm điều cấm giới (14) thì Vua Diêm Ma Pháp Vương tùy tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế ta khuyên chúng hữu tình nên thắp đèn làm phang, phóng sanh, tu phước khiến khỏi được các khổ ách, khỏi gặp những tai nạn.

 

GIẢI NGHĨA:

(1) Hoạnh tử: Đã giải nghĩa ở Kinh Văn 24 là: Chết bất ngờ như tai nạn xe cộ, té ngã cầu đò, bị tai nạn lửa nước, v.v…

 

(2) Yêu nghiệt: Cái mầm làm ác, nguyên nhân làm ác.

 

(3) Rúng sợ: Sợ hãi vô cùng.

(4) Bói khoa: Coi bói coi tướng coi quẻ đoán mò, nói hiêu nói vượn may ra thì trúng, chứ chẳng chắc chắn được.

 

(5) Tấu với thần minh: Là thưa, trình, tâu với thần qủy.

 

(6) Võng lượng: Võng lượng đều là tên quỉ thần, yêu quái. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa nói: Nhà ấy đáng sợ, chỗ nào cũng thấy si mị võng lượng biến hiện.

 

(7) Tà kiến: Chữ Phạn sanskrit: Mithyà-dfwỉi, Pàli: Micchà-diỉỉhi: Thấy biết sai lầm, chủ yếu chỉ cho hạng người phủ nhận đạo lí Nhân quả Tứ đế; chỉ chung các ý kiến các sở kiến lầm lạc, thiên lệch của kẻ phàm phu và nhất là kẻ ngoại đạo.

 

(8) Tru lục: Tru là đánh, giết, phạt, trách, Lục là sách ghi để trị, hình phạt nhục thể, giết chết; Tru lục là ghi ra các hình phạt quy định.

 

(9) Sa đắm: Sa là sai lầm, sa cũng có nghĩa là sa ngã, sa đắm là đắm say sai lầm.

 

(10) Bất hiếu: Bổn phận làm con: phải kính thuận với cha mẹ, gánh vác công việc cho cha mẹ, cung phụng hiếu dưỡng, không để cha mẹ lo lắng thiếu thốn, khi làm điều gì quan trọng phải thưa với cha mẹ biết. Khi cha mẹ làm điều gì trái đạo đức Phật pháp thì phải tìm cách khuyên can khéo léo, khi cha mẹ làm việc lành không được ngăn cản; nếu người nào làm ngược lại những điều trên là bất hiếu.

 

(11) Ngũ nghịch: Là đại nghịch gồm: 1. Giết Cha, 2. Giết Mẹ, 3. Giết A La Hán, 4. Phá hòa hiệp Tăng là gây ra sự bất hòa giữa Chư Tăng với nhau, 5. Làm cho thân Phật chảy máu: như người vì tâm ác mà hủy hoại hình ảnh Phật đập phá tượng Phật đều đồng tội như làm cho thân Phật chảy máu.

 

(12) Hủy nhục ngôi Tam Bảo: Tam Bảo đã giải thích ở kinh văn 32 giải thích 6, nếu có người ngu si vô trí sinh tâm đố kỵ huỷ báng Đức Phật, phá đốt kinh điển, viết bài mạ lị Phật pháp, mang những lời tà giáo gán ghép cho là của Phật, giết hại Tăng Ni, đều là hủy báng Tam Bảo. Do người ấy có tâm đố kỵ hơn thua nên sinh vào Ngạ Quỷ, do hành vi ngu si nên sinh vào loài Súc Sinh, do giết hại bậc tu hành đọa sinh vào Địa Ngục. Người không hiểu không tin Phật pháp cũng không có tội gì, chỉ là bỏ lỡ cơ hội và mất đi sự lợi ích của Tam Bảo; còn nếu sinh tâm huỷ báng, thì có tội sẽ đọa vào ba đường dữ, cho nên không tin cũng đừng sinh tâm huỷ báng vì nhân quả tự nhiên hiện hành, bao trùm pháp giới bình đẵng.

 

(13) Phá hoại phép vua tôi: Đây là luật nước mà mọi người dân sống trong nước phải tuân theo, nếu bất tuân làm trái lại là phá hoại phép nước, vì trong một nước nếu không có luật lệ phép tắc nghiêm minh thì dễ dẫn đến bất an, xáo trộn phiền toái.

 

(14) Hủy phạm điều cấm giới: Hủy là đả phá nói xấu, Phạm là khuôn khổ phép tắc; hủy phạm là đả phá chỉ trích giới luật, gạt bỏ các điều cấm giới và làm trái lại. Nếu chúng ta không tuân thủ theo giới luật thì không thể tiến tới quả vị giải thoát. Người đã thọ giới nhất định phải giữ giới cho được thanh tịnh, người xưa nói "giữ giới như giữ tròng con mắt của mình", vì mọi người sống đều nhờ vào con mắt để tiếp xúc với đối tượng của mình, nếu con mắt không thấy được thì rất khổ. Giới cũng vậy, nó giúp cho chúng ta hết phiền não, phân biệt được thiện ác, do tâm không còn phiền não nên được thanh tịnh, sinh ra trí tuệ; bởi vậy gìới là nền tảng của Đạo Phật, không nên hủy phạm giới.

 

     Đoạn Kinh Văn 35 trên Bồ Tát Cứu Thoát trả lời Tôn giả A Nan về 9 loại chết không bình thường do:

Thứ nhất không gặp thầy gặp thuốc, tin nhảm nhí thần linh, lang băm mà chết,

Thứ hai phạm phép vua vì vi phạm luật lệ nhà nước mà bị chết,

Thứ ba sa đọa tửu sắc ma túy săn bắn mà chết,

Thứ tư tai nạn lửa bị chết,

Thứ năm tai nạn nước bị chết,

Thứ sáu độc trùng ác thú hại bị chết,

Thứ bảy té ngã, tai nạn bị chết,

Thứ tám bị thuốc độc trù ếm bùa ngải bị chết,

Thứ chín là chết đói khát.

 

     Ngoài 9 thứ chết bất thường này còn vô số các thứ chết bất thường khác nữa, như ngày nay chết vì tai nạn máy bay, chết vì nạn khủng bố, chết vì khí hơi độc, v.v…

 

     “Vua Diêm Ma kia là chủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi tội phước trong thế gian; nếu có chúng hữu tình nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục ngôi Tam Bảo, phá hoại phép vua tôi, hũy phạm điều cấm giới thì Vua Diêm Ma Pháp Vương tùy tội nặng nhẹ mà hành phạt”. Vua Diêm Ma là biểu tượng, như đã biết, nhân chứng chính là A Lại Đa Thức của mình, nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ chuyện gì dù lành dù ác đều được Mạt Na Thức thứ 7 truyền vào ngay cho A Lại Đa Thức ghi giữ. Không ai có thể giấu giếm bất cứ việc gì mình đã làm, chẳng cần phải điều tra, dù có trốn tránh được với luật pháp và mọi người ở thế gian, nhưng người đó chẳng thể nào giấu được tâm thức của chính mình.

     Khi làm bất cứ việc gì đều được A L ại Đa Thức ghi giữ ngay tức khắc, như cảnh tới trước gương liền có hình, nhân chứng chính là mình, mình là nhân chứng xử tội của mình vậy. Bởi vậy, Phật giáo chẳng cần áp dụng hình phạt, chỉ cần nói ra sự thật này thôi, hãy tự liệu lấy mình mà hành động; không làm ác mà phải làm thiện, không ăn ở bất hiếu. Không phạm ngũ nghịch, không hủy nhục ngôi Tam Bảo, không phá hoại luật nước, không hũy phạm điều cấm giới, thì Vua Diêm Ma Pháp Vương làm sao mà hành phạt?

     Bồ Tát Cứu Thoát khuyên: “Vì thế ta khuyên chúng hữu tình nên thắp đèn làm phang, phóng sanh, tu phước khiến khỏi được các khổ ách, khỏi gặp những tai nạn”. Người Phật tử đã quy y Tam Bảo Phật Pháp Tăng, sám hối giữ giới đầy đủ, bỏ ác làm lành, giữ tâm trong sạch thanh tịnh rồi; nếu muốn cứu giúp người hoạn nạn thì cũng nên làm tương tự trong việc cúng dường Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Nghĩa là phải lập lễ đàn có Thần Phang Tục Mạng năm Sắc, thụ Bát Quan Trai Giới 7 ngày tròn, mời Chư Tăng làm lễ có vị Pháp Sư chân tu chủ lễ, ngày 3 lần đêm 3 lần. Mỗi lần lễ lạy tụng Kinh và trì Chú Đại Đà La Ni 108 lần không thiếu sót, không để đèn tắt trong vòng 49 ngày đêm, không sơ sót. Lại phải phóng sinh 49 loại chúng sanh khác nhau, như vậy sẽ khiến họ khỏi bị các khổ ách, khỏi bị gặp những khổ nạn mà được an vui.

 

  (Còn Tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn