Con Ma “Nửa đời chuông mõ“

14/08/201406:53(Xem: 5471)
Con Ma “Nửa đời chuông mõ“

co gai hoa sen

Vâng, tôi là một con Ma, các bạn đừng vội sợ hãi tôi không làm gì đâu! Tôi cũng giống như các bạn, chỉ khác một điều là tôi nhìn thấy được bạn nhưng bạn không có khả năng nhìn thấy được tôi. Để tiện việc xưng hô, cứ gọi tôi là Con Ma “Nửa đời chuông mõ“, cái tên cũng thánh thiện đấy chứ! Đã hết sợ tôi chưa? Nhân đọc bài “Bóng anh hùng“ của nhà văn Doãn Dũng, chuyên gia chuyển âm tư tưởng của người chết cho người sống cảm thông. Vì tôi lúc sinh thời là độc giả trung thành của tờ báo đạo Viên Giác, nên muốn tìm cô Bút Nữ Nhật Hưng để nhờ vả. Nhưng khi biết cô rất sợ ma, chỉ cần sự xuất hiện của tôi là cô đã hồn siêu phách lạc mất rồi. Do đó không còn sự lựa chọn nào khác hơn là tìm cô Hoa Lan để “chọn mặt gửi lời“, cái người dám tuyên bố câu “không sợ ma chỉ sợ người“.

Chủ đích của tôi hôm nay là muốn luận đàm với các bạn về đề tài “Nếu được lựa chọn tôi có muốn trở lại thân Nữ hay không?“ Tôi không còn nhiều thời gian để suy nghĩ nữa, 49 ngày cũng sắp trôi qua. Bưng bát cháo Lú trên tay là xem như đã xuôi theo nghiệp lực để ra đi. Tuy được mệnh danh là “Nửa đời chuông mõ“ nhưng tôi vẫn chưa chắc chắn sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn. Cũng chẳng sao, thua kiếp này ta bày kiếp khác, trở lại cõi Ta Bà tu tiếp làm kiếp đàn bà rồi phấn đấu vươn lên. Nói như thế có nghĩa là lập trường của Ma tôi đã kiên cố, nhất quyết sẽ trở lại thân nữ không thèm đòi thân nam. Các bạn thấy Ma Nữ này kinh chưa? Không sợ khổ đau hay tủi nhục của thân phận đàn bà. Nếu lỡ sanh ra kiếp má hồng như nàng Kiều của cụ Nguyễn Du thì ít ra cũng được một lần làm anh hùng Từ Hải chết đứng. Thời đại này hồng nhan không còn bạc mệnh mà là bạc tỷ cũng nên.

Trước khi đi sâu vào chi tiết dẫn chứng cho các bạn thấy những cái cao đẹp thật tuyệt vời, chỉ có người Nữ mới làm được còn người Nam chỉ đứng lắc đầu chịu thôi. Tôi xin sơ qua vài dòng về một tiểu kiếp làm thân Nữ của tôi, để rút tỉa kinh nghiệm làm hành trang cho những tiểu kiếp về sau. Nếu kể lể dài dòng văn tự “Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều, trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng chỉ còn mối tình mang theo“ như ông nhạc sĩ Vũ Thành An thuở nào đó đã diễn tả, xem như đời người đẹp này đã trở thành Đời Cô Lựu mất rồi. Còn không may mắn hơn lấy được người mình thương, tâm đầu ý hợp chỉ lúc ban đầu, nhưng sau một thời gian đổ chứng cờ bạc, rượu chè, thế là thiên đường sụp đổ. Thế nhưng người Nữ đa số hay bị chồng phản bội chạy theo những bóng hồng nào khác, để mình phải vò võ nuôi con. Hoặc lấy phải người chồng xem đồng tiền to hơn bánh xe bò, cầm đồng tiền phải xoay đủ bảy vòng mới dám tiêu. Trong 4 trường hợp tiêu biểu trên, các bạn cứ chọn một hay gán luôn cả 4 trọng tội cho số kiếp của Ma tôi cũng chẳng sao. Vì càng đau thương thì lực đẩy đến bến bờ giải thoát lại càng mau. Nhớ ngày nào đang còn là cô The của Nửa đời hương phấn, bỗng biến thành Nam Mô “Nửa đời chuông mõ“ lúc nào không hay! Thôi được chúng ta hãy tạm tin cuộc đời cô Ma này đã an lạc nhờ dựa vào Chánh Pháp và hạ thủ công phu tu tập. Nhưng tại sao cô nàng lại chết và chết như thế nào? Đây mới là mấu chốt của vấn đề.

Con người ai mà chẳng chết, không chết trước thì cũng chết sau cho đúng với câu “Thành, trụ, hoại, diệt“. Lúc bước chân vào đời khi mới biết yêu, mê thơ Xuân Diệu đã gặp ngay chữ Chết trong thơ: Yêu là chết trong lòng một ít. Vì mấy khi yêu mà đã được yêu. Rồi dòng đời đưa đẩy không biết Ma tôi đã chết đến bao nhiêu lần, đấy chỉ là chết trong lòng thôi, chứ chưa chết thật! Cho đến một hôm, Ma tôi được tặng một đĩa CD của Thầy Thông Triệt với đề tài “Chết là một phép Tu“ đem về nghiền ngẫm. Rồi tham dự không biết bao nhiêu khóa Huân Tu Tịnh Độ, Niệm Phật ngày đêm. Người nào cũng hồ hởi phấn khởi tin rằng lúc lâm chung sẽ được đức từ phụ A Di Đà đưa tay tiếp dẫn. Được nghe biết bao nhiêu trường hợp của những người may mắn được cả ban hộ niệm ngày đêm túc trực tụng kinh. Rồi hết tin cụ bà nọ được vãng sanh, cụ ông kia với Thân Trung Ấm nóng rực trên đỉnh đầu. Ma tôi không biết bao giờ được chết và chết theo kiểu gì? Thế rồi một hôm Ma tôi được toại nguyện, đang ngủ trên giường bỗng thấy nặng bụng bèn lồm cồm bò dậy thì choáng váng mặt mày, ngã lăn xuống đất đi luôn không kịp niệm đến nửa câu. Bác sĩ chuẩn bệnh ghi trong hồ sơ khai tử là đứt mạch máu não hay nhồi máu cơ tim gì đó. Thuộc loại chết bất đắc kỳ tử rất tốt cho mọi người, đỡ biết bao đau đớn và thuốc men; chỉ tội chết mau quá không có ai đến hộ niệm và không kịp niệm Hồng danh A Di Đà Phật.

Thế nhưng Ma tôi vẫn phấn đấu vươn lên vì lúc nào cũng tự lực cánh sinh, khi còn sống dựa câu “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi“, đến lúc lâm chung đã dùng “Nửa đời chuông mõ“ để sửa soạn hành trang ra đi nên không bị loạng quạng, nói theo danh từ nhà Phật là Tư lương mang theo về Tịnh Độ. Sáng ra trong vòng 8 tiếng không ai được đụng vào thân, thế mà Lão Chồng không hiểu chuyện, chắc hối hận hay sao mà cứ khư khư ôm tay vợ khóc lóc ỉ ôi, Ma tôi đứng trên cao nhìn xuống chỉ cười thầm chẳng xúc động mảy may. À! Tại sao không chịu cười lớn nhỉ! Lão ta làm sao dám giở trò Chồng chúa vợ tôi nữa đâu mà sợ. Đời chỉ bị dụ dỗ một lần, không ai ngu dại đến lần thứ hai. Phải chi lão ta đem cuốn kinh Địa Tạng để sẵn trên bàn thờ ra đọc cho người vợ dấu yêu vài Phẩm có phải lợi lạc cho cả hai không, nhưng thật ra lão được hưởng đến 6 phần còn Ma tôi chỉ vỏn vẹn có 1 phần mà thôi.

Còn cái đám con cháu nữa, không hiểu Đạo gì cả khóc lóc om xòm. Lúc Mẹ còn sống không chịu thăm hỏi săn sóc, bây giờ trông đứa nào khóc to nhất, vật vã nhiều nhất là đứa bất hiếu nhất, hối hận ấy mà! Ma tôi nghĩ lại thấy kiếp này mình thuộc diện chỉ đi nuôi trai mà thôi, mới lớn lên đã bị trai sỏ mũi dắt về nhà. Đi làm quần quật để nuôi thêm 4 thằng “tứ quý“, rồi khi gối mỏi còng lưng lại dấm dúi đem tiền mua bánh kẹo dụ dỗ mấy thằng cháu nội dễ thương. Hạnh phúc đấy! Cứu cánh của cuộc đời là thế đấy! Ma tôi đã làm tròn bổn phận đầy đủ rồi, không còn gì để chê trách cả. Thế nhé! Các bạn đã hài lòng chưa? Bây giờ chúng ta có thể cùng nhau phiếm luận vài hàng về thân người Nữ.

Từ thuở Đức Phật còn tại thế, một Đại đệ tử của Người trong số 10 vị Đại đệ tử, ông A Na Luật nhờ chứng Nhãn Thông nên nhìn suốt được tất cả thế giới. Khi nhìn xuống địa ngục thấy toàn phụ nữ phải chịu cực hình, sinh lòng thương cảm bèn thưa cùng Ngài:

- Bạch Đức Thế Tôn, người Nữ đã làm những tội lỗi gì mà phải bị đọa đày như thế!

Đức Phật giải thích rõ ràng:

- Này A Na Luật! Người Nữ có 3 tâm lớn hơn nam giới, mỗi buổi sáng thức giấc, tâm sân tham mong tất cả tài bảo trên thế gian đều vào mình, ban trưa tâm tật đố tăng lớn mạnh nên cho toàn thể nhân loại đều làm chướng ngại mình, xế chiều tâm dâm dục lẫy lừng lúc nào cũng mong có người dựa kề bên mình. Từ những tâm như thế dễ chiêu cảm sự phạm tội mà đọa địa ngục (*).

Đại biểu cho người Nữ có 3 tâm lớn hơn nam giới ấy là bà Eva, đã dụ dỗ chồng là ông Adam cùng ăn trái táo cấm để bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Có lẽ người Nữ cũng biết thân biết phận nên đã cố gắng tu hành, cứ nhìn các tín nữ lễ bái sinh hoạt trong chùa vượt hẳn tỷ lệ của thiện nam. Đấy là chưa kể những trường hợp phải làm thân đàn bà tại các xứ Hồi Giáo, nhất là các xứ cực đoan như Taliban ở A Phú Hãn, xem như cả đời bị chiếc áo Burka nhốt tù. Ma tôi nếu có trở lại làm thân Nữ cũng phải lựa chọn kỹ càng nơi nào có Chánh Pháp mà đến, không thì uổng cả một đời vì được làm thân người rất khó.

Thật ra nếu được làm thân nam rồi đi Tu như các vị Cao Tăng trong chùa, ấy chẳng phải là nỗi niềm mơ ước to lớn của Ma tôi. Nhưng thực tế chỉ thấy các chàng tối ngày làm bạn với Lưu Linh uống như hũ chìm, ham mê cá độ hay ong bướm dập dìu. Nếu chàng nào tốt số hơn được thuộc diện khoa bảng bằng cấp đầy người, lại chui vào cái bát nạn thứ 7 là “Thế trí biện thông“, lúc nào cũng xem mình là nhất là cái rốn của vũ trụ. Nhưng chàng ơi, trí thức không phải là trí tuệ. Làm thân nam kiểu này hưởng hết phước báu rồi cũng rụng rơi, Ma tôi không thèm đâu! Thôi, chúng ta nên đi thẳng vào vấn đề chính đi, phải kể những gì chỉ người nữ làm được mà người nam chỉ đứng nhìn rồi giở mũ nghiêng mình. Ấy là thiên chức làm mẹ! Trong đấy chứa đựng sự nhẫn nhục và lòng từ vô biên với đứa con thân yêu của họ. Thượng đế cũng cho người nữ sức chịu đựng để vượt cạn một mình và nuôi con dạy dỗ đến khi thành tài.

Trong kinh Nikaya có kể lại một câu chuyện: Khi Vua Ba Tư Nặc, (ông vua bụng bự thích ăn cơm cà-ri và hay ngủ gục trong giờ Đức Thế Tôn thuyết Pháp), tới thăm Đức Thế Tôn và đang hàn huyên… thì có các quan hầu cận tới trình lên là Hoàng Hậu vừa hạ sanh một Công Chúa… làm Đức Vua sa sầm nét mặt. Đức Thế Tôn hỏi vì sao Vua không vui? Và cho một bài Pháp nhỏ, tuy là thân gái nhưng nếu là người con gái đức hạnh khi lấy chồng sẽ sanh ra những đứa con trai, nuôi dậy nên người và những đứa con ấy sẽ trở thành vua hay những người đạo đức thì quý hóa hơn là sanh con trai…

Cũng vì tinh thần trọng nam khinh nữ của Á Đông, khẩu hiệu mỗi gia đình chỉ có một con, khiến cho một số nước như Trung Hoa hay Ấn Độ, lâm vào tình trạng nan giải như hiện nay. Số đàn ông “gào hét tìm vợ“ ở Trung Hoa ít nhất cũng lên đến con số 40 triệu người, họ tìm cách kiếm vợ ở các nước láng giềng như Việt Nam hay bò sang tận cả Phi Châu. Thật đáng tiếc cho họ không được lấy những người đẹp Tô Châu, dáng vẻ yêu kiều, còn đâu những Tứ Đại Mỹ Nhân lừng danh kim cổ.

Tuy nhiên, trong tinh thần ấy cũng có những điều hay như phát sinh ra nhà thơ Hồ Dzếnh, bố người Tàu sang Việt Nam lập nghiệp rồi lấy vợ Việt để thi sĩ Cảm Xúc ra bài thơ tặng riêng cho hai người đàn bà mà ông trân quý nhất, đấy là hình ảnh của Mẹ và Chị:

Cô gái Việt Nam ơi!

Nếu chữ Hy Sinh có ở đời,

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực.

Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Ngày nay người phụ nữ rất thành công trong mọi lãnh vực, kể sao cho hết những bà tổng thống hay thủ tướng lừng danh. Một Mẹ Théresa hay Sư Bà Chứng Nghiêm của Đài Loan với những công trình từ thiện vĩ đại. Một dẫn chứng thật tối thượng và tuyệt vời là hình ảnh Mẹ Quán Thế Âm, dĩ nhiên Ngài là thân nam nhưng mang hình ảnh dịu dàng và xinh đẹp của người mẹ hiền để dễ tiếp cận với đàn con dại nhiều khổ đau.

Các bạn biết đấy! Làm thân Ma mà đi nhờ vả một người không cùng chung tần số với mình, nhờ họ tải dùm tư tưởng cho mình thật không dễ dàng chút nào. Mới viết có vài trang cô nàng thợ viết đã làm eo, quẳng luôn bài của Ma tôi vào xó cửa trong máy vi tính để viết bài tường thuật về các khóa tu lợi lạc hơn. Rồi cái đám bạn bè viết lách của Ả lại lời ra tiếng vào không cho viết về đề tài Chết, sợ nó vận vào người, bắt viết các đề tài trong sáng “thanh lương“ hơn. Suýt tí nữa là đứa con tinh thần của Ma tôi cũng đi đời nhà ma luôn. May sao không biết một phép lạ nào xảy ra khiến cô nàng lôi “cố nhân“ ra hì hục viết trối chết, làm Ma tôi không kịp bàn giao tư tưởng. Nhưng thôi kệ, dở hay gì cũng không đặt nặng, miễn sao Ma tôi truyền thông được những gì mình suy nghĩ từ lúc sống đến khi ra đi cởi chiếc áo cũ quẳng lại cho đời. Hành trang mang theo rất nhẹ, chỉ hai chữ Phước và Nghiệp mà thôi.



Hoa Lan.

Mùa xuân 2013.

(*) Thập Đại đệ tử - T. Tinh Vân - Dịch giả: Như Đức

co gai hoa sen

Cô gái và Hoa Sen - Hương Cau

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 691)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 863)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2049)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1341)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1702)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1242)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1849)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3445)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4669)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4486)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S