Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

3. London, 12 tháng sáu 1962

09/07/201100:31(Xem: 2469)
3. London, 12 tháng sáu 1962

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ SỐNG VÀ CHẾT (ON LIVING and DYING)
Lời dịch: Ông Không 2009

Từ quyển Bình phẩm về sống
Tập 3: Sống, chết, và Tồn tại

London, 12 tháng sáu 1962

Tôi muốn nói về thời gian và chết, và tôi cũng muốn nói về điều gì chúng ta gọi là tình yêu.

Chúng ta không đang quan tâm đến những ý tưởng. Những ý tưởng là tư tưởng đã được tổ chức, và tư tưởng không giải quyết được những vấn đề tâm lý sâu thẳm của chúng ta. Điều gì thực sự xóa sạch những vấn đề của chúng ta là giáp mặt chúng, không phải qua bức màn của tư tưởng nhưng tiếp xúc trực tiếp và toàn sinh lực cùng chúng, thực sự đang thấy và đang cảm thấy sự kiện. Nếu tôi được phép sử dụng từ ngữ, người ta phải đầy cảm xúc – không phải cảm tính nhưng cảm xúc – tiếp xúc cùng sự kiện. Nếu chúng ta phụ thuộc vào tư tưởng, dù khôn ngoan, dù tổ chức tốt, dù có học thức, có lý luận, lý lẽ, hợp lý đến chừng nào chăng nữa, những vấn đề tâm lý của chúng ta sẽ không bao giờ được giải quyết. Bởi vì chính tư tưởng tạo ra tất cả những vấn đề của chúng ta. Một người thực sự muốn tìm hiểu toàn vấn đề của chết này và không tẩu thoát khỏi nó phải tự tìm ra cho chính mình bằng cách nào tư tưởng tạo ra thời gian, và bằng cách nào tư tưởng cũng ngăn cản chúng ta không hiểu rõ ý nghĩa, sự quan trọng, và sự phong phú của chết.

Hầu hết chúng ta đều sợ hãi chết, và chúng ta cố gắng tẩu thoát khỏi sợ hãi đó bằng cách lý luận chết và bám vào vô số những niềm tin, lý luận hay không lý luận, lại nữa được sáng chế bởi tư tưởng. Dường như đối với tôi, muốn tìm hiểu vấn đề của chết này đòi hỏi một cái trí không chỉ có lý luận, hợp lý, thông minh, nhưng cũng có thể quan sát trực tiếp sự kiện, thấy chết như nó là và không bị che lấp bởi sợ hãi.

Muốn hiểu rõ sợ hãi, chúng ta phải hiểu rõ thời gian. Tôi không có ý nói về thời gian bởi đồng hồ, thời gian tuần tự. Nó rất đơn giản; nó thuộc máy móc; không có gì cần phải hiểu rõ. Tôi đang nói về thời gian tâm lý: nhìn lại nhiều ngày hôm qua, tất cả những việc mà chúng ta đã biết, đã cảm thấy, đã thụ hưởng, đã thâu lượm, và đã lưu trữ trong ký ức. Sự hồi tưởng của quá khứ định hình hiện tại của chúng ta, mà luân phiên được chiếu rọi vào tương lai. Toàn qui trình này là thời gian tâm lý, mà tư tưởng bị trói buộc. Tư tưởng là kết quả của hôm qua lướt qua hôm nay sang ngày mai. Tư tưởng của tương lai bị quy định bởi hiện tại, mà lại nữa bị quy định bởi quá khứ.

Quá khứ được cấu thành từ những sự việc mà cái trí tầng ý thức bên ngoài đã học hành ở trường, những công việc nó có, hiểu biết kỹ thuật nó đã thâu lượm, và vân vân, tất cả điều đó là sự tiến hành thuộc máy móc của ghi lại; nhưng nó cũng được cấu thành từ hiểu biết tâm lý, những sự việc người ta đã trải nghiệm và đã lưu trữ, những kỷ niệm được giấu giếm sâu thẳm trong cái trí tầng ý thức bên trong. Hầu hết chúng ta không có thời gian để tìm hiểu tầng bên trong; chúng ta quá bận rộn, quá lao xao bởi những hoạt động hàng ngày của chúng ta; thế là tầng bên trong đưa ra những gợi ý, những bóng gió trong hình thức của những giấc mộng, và sau đó những giấc mộng này cần sự diễn giải.

Tất cả việc này, cả sự tiến hành của tầng ý thức bên ngoài lẫn bên trong, là thời gian tâm lý – thời gian như hiểu biết, thời gian như trải nghiệm, thời gian như khoảng cách giữa cái gì là và cái gì nên là, thời gian như một phương tiện để đến, để thành công, để mãn nguyện, để trở thành. Cái trí tầng ý thức bên ngoài bị định hình bởi bên trong, và rất khó khăn khi muốn hiểu rõ những động cơ, những mục đích, và những ép buộc được che giấu của tầng ý thức bên trong, bởi vì chúng ta không thể tìm được đường vào tầng bên trong qua nỗ lực của ý thức bên ngoài. Nó phải được tiếp cận một cách tiêu cực, không phải bởi sự tiến hành tích cực của phân tích. Người phân tích bị quy định bởi những kỷ niệm của anh ấy, và sự tiếp cận tích cực của anh ấy đến cái gì đó mà anh ấy không biết và hoàn toàn không nhận thức được chẳng có ý nghĩa bao nhiêu.

Tương tự như thế, chúng ta phải tiếp cận chết một cách tiêu cực, bởi vì chúng ta không biết nó là gì. Chúng ta đã trông thấy những người khác chết. Chúng ta biết có chết qua bệnh tật, tuổi già, và suy sụp, chết qua tai nạn, và chết với một mục đích, nhưng chúng ta thực sự không biết chết có nghĩa gì. Chúng ta có lẽ lý luận về chết. Khi thấy tuổi già ập vào chúng ta – lão suy từ từ, mất trí nhớ của chúng ta, và vân vân – chúng ta có lẽ nói, “Ồ, sống là một qui trình của sanh, tăng trưởng, và suy sụp, và sự kết thúc của bộ máy vật chất là điều không tránh khỏi.” Nhưng điều đó không mang lại hiểu rõ sâu sắc về chết là gì.

Chết phải là cái gì đó lạ thường, giống như sống. Sống là một sự việc tổng thể. Đau khổ, đau đớn, phiền muộn, vui vẻ, những ý tưởng vô lý, chiếm hữu, ganh ghét, thương yêu. Sự đau khổ dày vò của cô độc – tất cả điều đó là sống. Và muốn hiểu rõ chết chúng ta phải hiểu rõ tổng thể của sống, không phải chỉ lấy một mảnh của nó và sống cùng mảnh đó, như hầu hết chúng ta đều làm. Trong ngay hiểu rõ về sống có hiểu rõ về chết, bởi vì sống chết không tách lìa.

Chúng ta không quan tâm đến những ý tưởng hay những niềm tin, bởi vì chúng không giải quyết được gì cả. Một người muốn biết chết có nghĩa gì, muốn thực sự trải nghiệm và biết ý nghĩa trọn vẹn của nó, phải ý thức được chết trong sống; đó là anh ấy phải chết hàng ngày. Thuộc thân thể, bạn không thể chết mỗi ngày, mặc dù có một thay đổi sinh lý đang xảy ra mỗi khoảnh khắc. Tôi đang nói về chết thuộc tâm lý, phía bên trong. Những sự việc chúng ta đã thâu lượm như trải nghiệm, như hiểu biết, những vui thú và những đau khổ chúng ta đã biết – chết đi tất cả việc đó.

Nhưng bạn thấy, hầu hết chúng ta không muốn chết. Bởi vì chúng ta mãn nguyện với sống của chúng ta. Và sống của chúng ta rất xấu xa; nó rất keo kiệt, ganh ghét, một xung đột liên tục. Sống của chúng ta là một đau khổ, với thỉnh thoảng những lóe sáng của hân hoan mà chẳng mấy chốc chỉ trở thành một kỷ niệm, và chết của chúng ta cũng là một đau khổ. Nhưng chết thực sự là thuộc tâm lý chết đi mọi thứ chúng ta biết – mà nghĩa là có thể đối diện ngày mai nhưng không biết ngày mai là gì. Đây không là một lý thuyết hay một niềm tin tưởng tượng. Hầu hết mọi người sợ hãi chết và vì vậy tin tưởng đầu thai, sống lại, hay bám vào hình thức nào đó của niềm tin. Nhưng một người thực sự muốn tìm ra chết là gì không quan tâm đến niềm tin. Chỉ tin tưởng là thiếu chín chắn. Muốn tìm ra chết là gì, bạn phải biết làm thế nào để chết phần tâm lý.

Tôi không hiểu liệu bạn đã có khi nào thử chết đi cái gì đó rất gần gũi với bạn và cho bạn vui thú cực độ – chết đi nó, không lý do, không buộc tội hay một mục đích, nhưng chỉ chết đi nó như một chiếc lá rụng khỏi cái cây. Nếu bạn có thể chết đi trong cách này mỗi ngày, từng phút, vậy thì bạn sẽ biết sự kết thúc của thời gian tâm lý. Và dường như đối với tôi, một cái trí chín chắn, một cái trí muốn thực sự tìm hiểu, chết trong ý nghĩa này là rất quan trọng. Bởi vì tìm hiểu không là tìm kiếm có một động cơ. Bạn không thể tìm ra cái gì là sự thật nếu bạn có một động cơ, hay nếu bạn bị quy định bởi một niềm tin, bởi một giáo điều. Bạn phải chết đi tất cả thứ đó – chết đi xã hội, chết đi tôn giáo có tổ chức, chết đi vô vàn hình thức của an toàn mà cái trí bám vào.

Những niềm tin và những giáo điều trao tặng sự an toàn tâm lý. Chúng ta thấy rằng thế giới đang trong một hỗn loạn; có sự hỗn loạn toàn cầu, và mọi thứ đang thay đổi rất mau lẹ. Bởi vì thấy tất cả việc này, chúng ta muốn cái gì đó lâu dài, vĩnh cửu, thế là chúng ta bám vào một niềm tin, một lý tưởng, một giáo điều, hình thức nào đó của an toàn tâm lý; và việc này ngăn cản chúng ta không thực sự tìm ra cái gì là sự thật.

Muốn khám phá cái gì đó mới mẻ, bạn phải đến với nó bằng một cái trí hồn nhiên, một cái trí trong sáng, tươi trẻ, không bị vấy bẩn bởi xã hội. Xã hội là cấu trúc tâm lý của ganh ghét, tham lam, tham vọng, quyền lực, thanh danh; và muốn tìm ra cái gì là sự thật, người ta phải chết đi toàn cấu trúc đó, không phải lý thuyết, không phải trừu tượng, nhưng thực sự chết đi ganh ghét, chết đi sự theo đuổi của “nhiều hơn.” Chừng nào còn có sự theo đuổi của “nhiều hơn” trong bất kỳ hình thức nào, không thể có sự hiểu rõ về những hàm ý vô cùng của chết. Tất cả chúng ta đều biết rằng chẳng chóng thì chầy chúng ta sẽ chết phần thân thể, rằng thời gian đang trôi qua, và rằng chết sẽ chộp lấy chúng ta; và, bởi vì sợ hãi, chúng ta sáng chế những lý thuyết, chúng ta xếp đặt những ý tưởng về chết, chúng ta lý luận nó. Nhưng đó không là sự hiểu rõ về chết.

Bạn không thể tranh luận với chết phần thân thể; bạn không thể yêu cầu chết cho bạn sống một ngày nữa. Chết là kết thúc tuyệt đối. Và liệu không thể chết đi ganh ghét trong cùng cách, không tranh luận, không hỏi việc gì sẽ xảy đến cho bạn ngày mai nếu bạn chết đi ganh ghét, hay tham vọng? Thật ra, điều này có nghĩa hiểu rõ toàn qui trình của thời gian tâm lý.

Chúng ta luôn luôn suy nghĩ trong thời hạn của thời gian, phần tâm lý đang lập kế hoạch cho ngày mai. Tôi không đang nói về kế hoạch thực tế; đó là vấn đề hoàn toàn khác hẳn. Nhưng phần tâm lý chúng ta muốn là cái gì đó ngày mai. Cái trí ranh mãnh theo đuổi điều gì nó đã là và điều gì nó sẽ là, và sống của chúng ta được xây dựng trên theo đuổi đó. Chúng ta là kết quả của ký ức của chúng ta, ký ức là thời gian tâm lý. Và liệu có thể không cần nỗ lực, rất thanh thản, chết đi toàn qui trình đó?

Tất cả các bạn đều muốn chết đi cái gì đó gây đau khổ, và việc đó tương đối dễ dàng. Nhưng tôi đang nói về chết đi cái gì đó mà cho bạn vui thú lớn lao, một ý thức vô cùng của sự phong phú bên trong. Nếu bạn chết đi ký ức của một trải nghiệm hưng phấn, chết đi những tầm nhìn của bạn, chết đi những hy vọng và những mãn nguyện của bạn, lúc đó bạn bị giáp mặt một ý thức lạ thường của cô độc, và bạn không còn gì để bấu víu nữa. Những nhà thờ, những quyển sách, những vị thầy, những hệ thống triết học – bạn không thể tin cậy bất kỳ điều gì trong chúng nữa, mà là thực hiện đúng nhất, bởi vì nếu bạn tin cậy chúng, bạn vẫn còn sợ hãi, bạn vẫn còn ganh ghét, tham lam, tham vọng, tìm kiếm quyền hành.

Bất hạnh thay, khi chúng ta không tin cậy bất kỳ điều gì, thường thường chúng ta trở nên cay đắng, yếm thế, thiển cận, và rồi chúng ta chỉ sống từ ngày này qua ngày khác, nói rằng việc đó đủ rồi. Nhưng dù cái trí có lẽ lanh lợi và triết lý bao nhiêu, việc đó tạo ra một sống rất nông cạn và nhỏ nhen. Tôi không hiểu liệu bạn đã từng thử việc này, nếu bạn đã từng thử nghiệm nó: không cần nỗ lực chết đi mọi thứ mà bạn biết, không giả dối nhưng thực sự, mà không hỏi điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai. Nếu bạn thực hiện được việc này, bạn sẽ đến một ý thức lạ thường của cô độc, một trạng thái của trống không nơi không có ngày mai – và nếu bạn rà soát nó, nó không là trạng thái vô vọng ảm đạm. Trái lại!

Rốt cuộc, hầu hết chúng ta đều cô độc kinh khủng. Bạn có lẽ có một nghề nghiệp lý thú, bạn có lẽ có một gia đình và nhiều tiền bạc, bạn có lẽ có sự hiểu biết rộng rãi của một cái trí có học thức; nhưng nếu bạn xua đuổi đi tất cả điều đó khi bạn ở một mình, bạn sẽ biết ý thức lạ thường của cô độc này.

Nhưng bạn thấy, tại một khoảnh khắc như thế chúng ta trở nên rất kinh hoàng. Chúng ta không bao giờ đối diện cô độc đó; chúng ta không bao giờ rà soát trống không đó để phát giác nó là gì. Chúng ta bật máy thu thanh, đọc một quyển sách, huyên thuyên với bạn bè, đi nhà thờ, đi xem phim, uống rượu – tất cả việc đó đều cùng một mức độ, bởi vì tất cả chúng đều trao tặng một tẩu thoát. Thượng đế là một tẩu thoát vui vẻ, giống như nhậu nhẹt. Khi cái trí đang tẩu thoát, không có nhiều khác biệt giữa Thượng đế và nhậu nhẹt. Có lẽ theo xã hội, nhậu nhẹt không tốt lắm, nhưng sự tẩu thoát đến Thượng đế cũng có phương hại của nó.
Vậy là, muốn hiểu rõ chết, không phải bằng lời nói hay lý thuyết nhưng thực sự trải nghiệm nó, người ta phải chết đi ngày hôm qua, chết đi tất cả những kỷ niệm của người ta, những vết thương tâm lý của người ta, nịnh nọt, lăng nhục, nhỏ nhen, ganh ghét – người ta phải chết đi tất cả việc đó, mà là chết đi chính người ta. Bởi vì tất cả việc đó là người ta. Và vậy là bạn sẽ tìm ra, nếu bạn đã tiến xa như thế, rằng có một cô đơn mà không phải là cô độc. Cô độc và cô đơn là hai trạng thái khác hẳn. Nhưng bạn không thể thẩm thấu cô đơn nếu không rà soát và hiểu rõ trạng thái cô độc đó mà trong nó sự liên hệ không còn ý nghĩa gì cả. Liên hệ của bạn với người vợ của bạn, với người chồng của bạn, với người con trai của bạn, với người con gái của bạn, bạn bè của bạn, công việc của bạn – không có điều gì trong những liên hệ này còn ý nghĩa gì cả khi bạn cô độc trọn vẹn. Tôi chắc chắn một số các bạn đã trải nghiệm trạng thái đó. Và khi bạn có thể rà soát nó và vượt khỏi nó, khi bạn không còn bị kinh hãi bởi từ ngữ cô độc đó, khi bạn chết đi tất cả những sự việc bạn đã biết, và xã hội không còn tác động bạn nữa, lúc đó bạn sẽ biết cái khác lạ. Xã hội tác động bạn chỉ khi nào bạn còn lệ thuộc vào nó phần tâm lý. Xã hội không còn gây ảnh hưởng vào bạn gì cả từ khoảnh khắc bạn cắt đứt mấu chốt tâm lý mà cột chặt bạn vào nó. Vậy là bạn ra khỏi những quy định của sự kính trọng và luân lý thuộc xã hội. Nhưng để rà soát cô độc đó mà không tẩu thoát, mà không giải thích bằng từ ngữ, mà ở cùng nó trọn vẹn, đòi hỏi nhiều năng lượng. Bạn cần năng lượng để sống cùng cái gì đó xấu xa nhưng không cho phép nó làm hư hỏng bạn, giống như bạn cần năng lượng để sống cùng cái gì đó đẹp đẽ nhưng không thân thuộc với nó. Năng lượng không vấy bẩn đó là cô đơn mà bạn phải đến.

Và từ tiêu cực đó, từ trống không trọn vẹn đó, có sáng tạo. Chắc chắn tất cả sáng tạo đều xảy ra trong trống không, không phải khi cái trí của bạn đầy ắp. Chết có ý nghĩa chỉ khi nào bạn chết đi tất cả những ảo tưởng của bạn, những giả tạo của bạn, chết đi vô vàn hồi tưởng của bạn. Vậy là có cái gì đó vượt khỏi thời gian, cái gì đó bạn không thể tiếp cận nếu bạn có sợ hãi, nếu bạn bấu víu những niềm tin, nếu bạn bị trói buộc trong đau khổ.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/03/2022(Xem: 1427)
Tôi không ngạc nhiên lắm khi biết dù tác phẩm Chết và Tái sinh ( Death & Rebirth ) đó TT Thích Nguyên Tạng soạn dịch ấn bản lần đầu tiên vào năm 2001 và được tái bản đến 9 lần rồi mà vẫn không đủ cung cấp, cho nên sắp tới Tu Viện Quảng Đức cho tái bản lần thứ 10 để cống hiến bạn đọc gần xa. May mắn thay trong thư viện tí hon của tôi có tác phẩm này được tái bản lần thứ bảy vào mùa Vu Lan báo Hiếu 2007 mà lời ngỏ của tác giả đã đánh động đến con tim của người đọc …qua câu chuyện Luật Sư Brendan Keilar sinh sống tại Melbourne / Australia đã bị bắn chết thật kinh hoàng khi tuổi mới 43 để trả giá cho hành động rất ngưỡng phục ( vì đã can thiệp cứu người).
02/12/2021(Xem: 7032)
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức, Kính thưa quý đồng hương Phật tử thân mến, Kể từ ngày 12/04/2020, nước Úc của chúng ta cũng như các nước khác trên toàn thế giới đã bắt đầu bị đại dịch Covid hoành hành và lây lan một cách nhanh chóng. Hai năm qua toàn thế giới đã phải chịu ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thương trường. Ngay cả đời sống tinh thần của mọi người dân cũng bị ảnh hưởng không ít, nhất là đối với những gia đình đã phải nhìn thấy người thân ra đi trong sự cô đơn lạnh lẽo, không người đưa tiễn. Biết bao hoàn cảnh đau thương... Tính đến hôm nay nước Úc của chúng ta đã được ổn định phần nào, trên 80% người dân đã được tiêm ngừa theo quy định của chính phủ, cũng như việc không còn phải lockdown, người dân được đi lại tự do giữa các tiểu bang cũng như được hội họp, sinh hoạt hội đoàn và tôn giáo. Trong đại dịch, 2 năm qua nước Úc số người bị nhiễm Covid lên đến 113,411 người và số người không may mắn đã ra đi vĩnh viễn là 1,346 người.
01/08/2021(Xem: 4637)
Chuông mõ gia trì là 2 pháp khí rất quan trọng trong nghi thức hành trì và tu tập mỗi ngày đối với người đệ tử Phật. Tiếng chuông, tiếng mõ rất là quen thuộc gần gũi trong sự hành trì tu tập hằng ngày của người Phật tử, nhất là Phật tử theo truyền thống Bắc tông. Phật tử theo truyền thống Nam tông trước kia thì không có gõ mõ, thỉnh chuông khi tụng kinh, nhưng bây giờ đã có chuông rồi, còn bên Bắc tông thì chuông mõ đã có từ ngàn xưa.
26/06/2021(Xem: 4756)
LỜI GIỚI THIỆU “Chết đi về đâu” là tuyển tập các bài pháp thoại của thầy Nhật Từ tại Hoa Kỳ, Úc châu và Việt Nam. Dựa vào kinh điển Phật giáo thuộc các truyền thống khác nhau, thầy Nhật Từ đã phân tích những trở ngại về tâm lí trước cái chết thường làm cho cái chết diễn ra sớm hơn và đau đớn hơn. Nếu chết được hiểu là tiến trình tự nhiên mà mỗi hữu thể đều phải trải qua thì nỗi sợ hãi về cái chết sẽ trở thành nỗi ám ảnh, trước nhất là từ hữu thức sau đó là từ vô thức, làm cho cuộc sống con người trở nên tẻ nhạt và đáng sợ.
01/11/2020(Xem: 8209)
1/Đệ nhất đại nguyện: quốc vô ác đạo. Đại nguyện thứ nhất: Cõi Cực-lạc không có các đường ác. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy) 2/Đệ nhị đại nguyện: bất đọa ác đạo. Đại nguyện thứ hai: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc không đọa vào các đường ác. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 3/ Đệ tam đại nguyện: thân chơn kim sắc. Đại nguyện thứ ba: Thân của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có sắc vàng. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 4/ Đệ tứ đại nguyện: hình sắc tương đồng. Đại nguyện thứ tư: Hình sắc của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều bình đẳng, không đẹp xấu khác nhau. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 5/Đệ ngũ đại nguyện: túc mạng trí thông. Đại nguyện thứ năm: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có túc mạng thông, biết rõ các kiếp quá khứ. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy)
09/09/2020(Xem: 4252)
Hỏi: Thưa Thầy, luân hồi thật sự được hiểu thế nào trong Phật Giáo, hay vấn đề này bị nhầm lẫn với thuyết tái sinh trong Bà La Môn Giáo và một số tín ngưỡng Tây Phương, vì từ Hán Việt “tái sinh” tiếng Pháp viết là "réincarnation” là sự lặp lại về đơn vị gốc, ví dụ: Người giàu nghèo sang hèn v.v… cứ thế trở lại nguyên gốc. Còn tiếng Phạn saṃsāra là luân hồi là lang thang, trôi nổi. Nếu dùng bật lửa đốt cháy cây nến, điều kiện tạo lửa từ bật lửa sẽ gồm đá đánh lửa, hộp nhựa đựng khí gas, ống thông nhau, ống dẫn ga, bánh xe tạo lực ma sát vào đá lửa, vô số phân tử hóa học trong khí gas, môi trường xung quanh v.v… Trong khi các duyên bắt lửa của ngọn nến chỉ có 2 yếu tố cơ bản gồm thân đèn làm bằng sáp và tim làm bằng vải… Vậy ngọn lửa từ bật lửa có quan hệ gì với ngọn lửa của cây nến? Như thế luân hồi không phải là sự tái sinh nguyên bản mà là tâm lang thang trôi lăn chìm nổi vì tham sân si, không biết tàm quý để rồi chúng sanh cứ mãi bị cái vòng xoay đó làm cho đau khổ?
08/06/2020(Xem: 4861)
Thần đồng 9 tuổi tốt nghiệp đại học, chuẩn bị học tiến sĩ
26/03/2020(Xem: 4037)
Con người được sanh ra từ đâu là một nghi vấn vô cùng nan giải cho tất cả mọi giới và mãi cho đến thế kỷ 21 này vấn đề con người vẫn còn phức tạp chưa được ai minh chứng cụ thể. Có nhiều học thuyết đã lý giải vấn đề con người nhưng rất tiếc họ chưa có kinh nghiệm thông suốt chiều sâu cho nên vẫn còn nằm trong hý luận của lý luận mà chưa khả dĩ đem lại được một chút thỏa mãn nào của nghi vấn; còn đối với các Tôn Giáo phần đông quan niệm quá cổ điển thiển cận mê tín mà ở đây chúng ta không cần phải bàn đến.
06/03/2020(Xem: 4249)
Nhà khoa học cao tuổi nhất Úc, Giáo sư David Goodall, đã qua đời bình yên ở Thụy Sĩ theo đúng nguyện vọng của ông. Vị Giáo sư 104 tuổi là người Úc đầu tiên thực hiện việc chết tự nguyện bằng cách chích thuốc. Ông đã có một cuộc sống viên mãn, và cách ông chọn cái chết cho mình đã một lần nữa đưa câu chuyện đầy tranh cãi - chết tự nguyện - trở lại các mặt báo trên toàn thế giới.
04/03/2020(Xem: 29628)
Lễ Dâng Y Kathina & Cúng Dường Phẩm Vật chư Tăng tại Bồ Đề Đạo Tràng India, Nhân Lễ tưởng niệm ngày đức Phật (thái tử Siddartha Gautam) xuất gia, được sự trợ duyên của chư Phật tử và quí thiện hữu hảo tâm, chúng tôi đã thực hiện một buổi Dâng Y Kathina và cúng dường phẩm vật đến chư Tăng thuộc 3 truyền thống Mật tông Kim cương thừa (金剛乘, vajrayāna), truyền thống chư Tăng Nguyên Thủy các nước Theravada và chư Tăng Ni truyền thống Đại Thừa (Mahayana) tại Bồ Đề Đạo Tràng.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
96,694,990