Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Video sách nói: Cảm Niệm Ân Sư, Cố Thượng Tọa Thích Chơn Kiến (1948-2006)

15/04/201502:03(Xem: 4912)
Video sách nói: Cảm Niệm Ân Sư, Cố Thượng Tọa Thích Chơn Kiến (1948-2006)

thich chon kien 2


Cảm Niệm Ân Sư

Kính dâng Giác linh cố Thượng Tọa Thích Chơn Kiến,
Húy thượng Trừng hạ Lộc, hiệu Ấn Minh Tôn Sư

 

 Kính lạy Giác Linh Sư Phụ,

 Từ Úc Quốc, phương trời xa xôi ở Nam Bán Cầu, con thành kính vọng hướng về Thiên Phú Đường Thượng, thành phố Nha Trang, miền trung nước Việt, đê đầu đảnh lễ Giác Linh Sư Phụ với lòng đau đớn vô biên, vì lẽ ra giờ phút thiêng liêng này, con phải có mặt phủ phục để hầu bên cạnh Kim Quan  của Thầy! Thầy ơi, kính mong Thầy từ bi tha thứ cho đứa đệ tử này. Trong giờ phút tử biệt sinh ly đau lòng này, con xin ghi lại nơi đây một đôi dòng cảm niệm về ân đức của Thầy đã một đời tu tập hành đạo, đem pháp lành cứu  thế độ sinh, mà con là một trong những người có duyên may được gặp Thầy trong kiếp sống ngắn ngủi này.

 1. Thầy như một người cha hiền:

 Đầu năm 1983, con gặp chướng duyên sau ba năm hành điệu tại Chùa An Dưỡng, nên Mẹ con xin phép Sư Phụ Tâm Trí cho con được đến tu học với Thầy, ân đức này phải kể đến sự giới thiệu của Sư Thúc Trừng Thi, lúc đó cũng đang lưu trú tại Thiên Phú Tự. Lúc đầu, Thầy có vẻ ái ngại, nhưng với tấm lòng từ bi bao dung, cuối cùng Thầy đã tiếp nhận và yêu thương con như một đệ tử thế phát xuất gia của Thầy. Mặc dù lúc ấy con đã thuộc lòng bốn quyển luật Tỳ Ni, Sa Di, Oai Nghi, Cảnh Sách và hai thời công phu sáng chiều, nhưng Thầy bắt con phải học thêm Phát Bồ Đề Tâm Văn của Tổ Sư Tỉnh Am và một khóa Giáo Lý Căn Bản, Thầy đã gởi con và Sư Huynh Tịnh Hạnh xuống  Linh Sơn Pháp Bảo ở Cầu Dứa để cầu học với TT Tâm Hải và Sư Ông Như Ý, sau khóa học này, đầu năm 1985, Thầy gởi con vào Chùa núi ở Châu Đốc xin được thọ giới Sa Di.

sp-ventang2

 Sau khi thọ giới về, nơi gian nhà Tổ con được đảnh lễ tạ ơn Thầy; chính lúc này Thầy ban cho con pháp tự là Tịnh Tuệ, rồi dạy con rằng “sau khi thọ giới xong mỗi khi công phu và tụng kinh con phải nhớ đắp y, một điều quan trọng khác con phải nhớ khi đi tắm rửa, con không được vắt áo quần lên trên vai, vì hai vai của người tu chỉ để mang chiếc y màu vàng giải thoát mà thôi”. Lời dạy của Thầy tuy đơn giản nhưng con vẫn khắc ghi mãi trong lòng con cho đến ngày hôm nay.

 Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đến.

 Ân đức của Thầy đã dành cho con và các sư đệ của con, làm sao có thể diễn tả cho hết lời được?  Cha mẹ sanh cho con tấm thân tứ đại có sanh có diệt này, còn Thầy trao cho con giới thân tuệ mạng, Thầy như một người cha hiền, dìu dắt dạy bảo từng bước một từ lúc con còn để chỏm,  Thầy vui mừng khi thấy đệ tử mình siêng năng tinh tấn tu học. Thầy lo lắng mỗi khi đệ tử mỏi gối chùn chân, để làm sao, thế nào dẫn dắt cho chúng con vững bước đường tu, mà không bị hoa thơm cỏ lạ làm bận lòng vướng chân trên lộ trình hướng về giác ngộ, giải thoát.

 Kính bạch giác linh Thầy,

Con nhớ lúc đó chùa mình còn chỉ có Thầy, sư huynh Tịnh Hạnh, chú Dũng nhỏ và Sư Thúc Trừng Tri, nhưng Sư Thúc chỉ đi đi về về chứ không ở luôn cho đến khi Ngài về trụ trì Chùa Tân Long ở Phú Ân Bắc từ năm 1984. Chùa Thiên Phú trong thời điểm từ năm 1983 đến năm 1987 không có Ưu Bà Di công quả ẩm thực, nên ba đứa con thay phiên nhau vào bếp, do vậy, cơm khê, canh mặn… là chuyện thường ngày xảy ra,  nhưng Thầy vẫn thương yêu chúng đệ tử còn nhỏ dại vụng về, mà vẫn vui vẻ ăn cho qua bữa, chứ không hề la rầy chúng con. Thầy nghiêm mà từ, khắt khe dạy dỗ khi chúng con phạm những lầm lỗi nhưng luôn ẩn chứa một tình thương vô bờ của Thầy. Có sống bên cạnh Thầy mới nhìn thấy được tính cách giản dị nhưng thanh cao của Thầy. Tánh của Thầy ít nói nhưng khi nói thì phát ngôn cẩn trọng. Thầy luôn nhắc nhở rằng “Con người được sinh ra, với chiếc búa trong miệng, người ngu nói điều xấu, là tự chém vào mình, ai khen người đáng chê, ai chê người đáng khen, đều chất chứa bất hạnh”, nên phải “nói như Chánh pháp và im lặng như Chánh Pháp”. Cả một đời tu tập và làm việc đạo, Thầy cho nhiều hơn là nhận, đó là mật hạnh của Thầy, cho đến lúc Thầy ra đi, nhìn lại trong phòng riêng của Thầy, chúng con thật giật mình, vì Thầy không có được những tiện nghi vật chất tối thiểu của đời sống, không có một cái gì ngoài tủ kinh sách và cái đi-văng gỗ để nằm nghỉ qua đêm. Tất cả những gì tốt đẹp và cao quý nhất Thầy đều đổ vào công trình xây dựng ngôi Tam Bảo này.

Sau năm 1975 đến đầu những năm tám mươi, tình hình kinh tế cả nước khó khăn, mọi người khổ cực, cuộc sống không ổn định, người dân bên ngoài đã vất vả, nên đời sống của chư tăng trong chùa lại càng khổ cực hơn, cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm, Chùa Thiên Phú của chúng con cũng không nằm ngoài khúc quanh lịch sử này. Con nhớ nguồn thu nhập duy nhất của chùa lúc ấy là làm nhang bán kiếm tiền, để thầy trò sống qua ngày và mua dầu mua hoa cúng Phật. Thầy đã lặn lội lên Thanh Minh, vào Suối Dầu…để tìm mua trầm về làm nhang, Thầy trò phải thức khuya để chẻ nhỏ miếng trầm ra, xây nhuyễn, rồi ngào với ít mùn cưa và keo, để lăn thành cây nhang, phơi khô, gói thành lọn rồi đem ra chợ bán. Con và sư huynh Tịnh Hạnh thay phiên nhau chở trầm đi xây, đây là công việc rất nặng nhọc, khó khăn, vì đường xa lầy lội cách trở, nhất là con đường đất từ Chùa Tân Chánh đi vào trong Đại Điền. Con nhớ có một buổi chiều tối con chở một bao trầm lên Đại Điền để xây, nhưng đến nơi nhà máy xây trầm của ông Trận (gần Chùa Đại Phước) đã đóng cửa vì cúp điện, sau đó con phải đạp xe chở bao trầm thẳng lên Trường Lạc để xây cho có bột trầm làm nhang vào sáng hôm sau. Trên đường về đến dưới ngã ba Thành, xe của con bị bể bánh trong khi trời tối đen như mực, mà ngay khúc đường đó không có trạm vá xe, con phải dắt bộ đi về, con đi đến gần Bình Cang thì gặp được Thầy, con như muốn bật khóc khi thấy hình bóng Thầy xuất hiện để chia sẻ khổ nạn cho con, lúc ấy Thầy ở nhà nóng ruột vì thấy sao lâu quá mà con chưa về, Thầy phải đạp xe và rọi đèn pin đi tìm con, vì lúc ấy đã gần nửa đêm rồi. Kể đến đây con cảm thấy như những chuyện này chỉ mới xảy ra ngày hôm qua, tất cả mọi thứ đều còn ở trong ký ức, lưu nguyên kỷ niệm.

 Thời gian tiếp theo sau đó, không có tiền để mua trầm nữa, nên Thầy đã hỏi thăm và tìm các loại hương liệu khác có thể làm nhang. Thầy trò đã lên tận Chùa Thiên Quang, xin phép Hòa Thượng Minh Mỹ hái lá khuynh diệp về làm nhang, sau đó hết lá khuynh diệp, có người mách bảo trong Sông Lô, Đồng Bò có một rừng tràm, có thể lấy về, phơi khô, xây thành bột để làm nhang… thế là Thầy trò đã đạp xe đạp vào tận Đồng Bò xa xôi tìm hái lá tràm. Con không biết bây giờ Sông Lô ra sao, nhưng 20 năm trước cảnh trí nơi này rất đẹp và thơ mộng, sơn thủy hữu tình, phía trước là biển, sau lưng là núi, nói đúng hơn  nơi đây là một rừng tràm bát ngát mùi thơm. Cảnh vật đó tạo nên một không khí thanh bình tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên hòa lẫn vào nhau, tuy hai mà một; không có một yếu tố ngoại duyên nào có thể khuấy động được tâm tư con người ở trong cảnh vật như thế, một nơi giúp cho con người dễ nhiếp niệm, dễ ngộ, dễ chứng. Quả thật Sông Lô thân thương là một bức tranh thiên nhiên hoàn mỹ đã khắc ghi vào tâm cảm, kỷ niệm hình ảnh Thầy trò, qua không gian vô biên và thời gian vô tận, ai chưa một lần đến viếng thăm cảnh ấy ắt hẳn sẽ nuối tiếc đến mãi ngàn sau như cụ Tô Đông Pha từng nói: “Vị đáo sinh bình hận bất tiêu”, và cũng chính cảnh trí này đã ươm mầm cho ngôi Phước Sơn Tu Viện sau này của Thầy hiện hữu tại Đồng Bò.

 Rồi thời gian lặng lẽ trôi qua, chúng con lớn dần theo năm tháng, Thầy nhận thêm các đệ tử mới, chúng con có thêm các sư đệ như Tâm Phước, Nguyên Xuân, Tâm Từ, Tâm Tịnh, Tâm NhưNhư Mỹ, Tâm Hiền, Quảng Long, Tâm Phong, Tâm Thiện, Tâm Tri, Tâm Pháp, Tâm Nghĩa, Tâm Châu, Tâm Hạnh, Tâm Thông, Tâm Hoàng, Nguyên Nhựt… ….  Cuối năm 1987, dù Phật sự ở chùa bề bộn, cần có các đệ tử xung quanh để phụ giúp công việc, nhưng Thầy ý thức được chí nguyện của người đệ tử qua lời dạy của Tổ Quy Sơn Linh Hựu, rằng “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu”, nên Thầy đã gởi con vào Chùa Pháp Vân, Gia Định, Sàigòn để tu học. Lần đầu tiên con xa Thầy nên trong lòng rất khổ sở vấn vương tình nghĩa thầy trò Linh Sơn cốt nhục, nhưng với sự khuyến khích của Thầy nên con gạt nước mắt để lên đường du học. Con đã theo học các khóa Phật học ở Chùa Kim Cương của HT Tuệ Đăng, rồi tiếp theo đó là Trường Cơ Bản Phật Học Vĩnh Nghiêm, Trường Đại Học Sư Phạm và Cao Cấp Phật Học. Hoàn tất các khóa học này, con được bào huynh Tâm Phương bảo lãnh sang Úc để phụ công việc Phật sự tại Tu Viện Quảng Đức, nên đầu năm 1998, lại một lần nữa con lại rời xa Thầy, lòng con quặn đau khi về đảnh lễ Thầy trước khi ra đi. Trong ánh mắt của Thầy cũng thoáng buồn nhìn xa xăm ra ngoài cửa sổ khi con thưa trình. Thầy và con chấp nhận thực tại của đời sống này là mỗi người, mỗi nghiệp, mỗi hạnh nguyện khi sinh ra trên cõi đời này, không có ai giống ai hết, nhưng có một điều an ủi là Thầy biết các đệ tử của mình đang đi vào cuộc đời bụi bặm khổ lụy chông gai này với tâm nguyện và chí hướng cao cả “ thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”, nên Thầy và con đã tạm biệt nhau trong niềm lạc quan như vậy.

 Đến năm 2003, Tu Viện Quảng Đức tổ chức Lễ Khánh Thành, dù thân đang có bệnh, nhưng Thầy vẫn cố gắng sang Úc để dự lễ và thăm con, con nhớ lúc con ra phi trường đón Thầy, Thầy trò đoàn viên trong vui vẻ sum vầy vui mừng khôn xiết. Phần con, con rất vui sướng trong lòng khi gặp lại bậc ân sư khả kính, nhưng tụ hội để rồi phân ly, vì sau lễ Khánh Thành 3 ngày là Thầy lại tháp tùng phái đoàn của HT Phước Thành, HT Thiện Nhơn, TT Quảng Ba… bay sang Ấn Độ để chiêm bái Thánh tích, con tiễn chân Thầy ra phi trường mà trong lòng quyến luyến không muốn rời Thầy. Trước lúc chia tay Thầy không quên nhắc nhở con tinh tấn tu học làm việc đạo để khỏi phụ lòng giáo dưỡng và hoài mong của Thầy Tổ. Con không ngờ đó là lần cuối cùng con gặp Thầy. Thật đúng là “Thân tứ đại hữu sinh hữu diệt, cõi ta bà không có có không “.

 2. Công đức xây dựng

 Dù phải chịu muôn ngàn gian khổ
Con dốc lòng vì đạo hy sinh


Dù gian lao khổ nhọc với đời sống, nhưng Thầy vẫn hun đúc ước nguyện để xây dựng nên một già lam Thiên Phú để có nơi tu học cho chúng đệ tử ngày càng đông theo thời gian. Có thể nói cả một đời hành đạo của Thầy, phần lớn thời gian là dồn hết công sức để kiến tạo nên ngôi già lam Thiên Phú, ngôi phạm vũ huy hoàng mà chúng con được thừa hưởng ngày hôm nay. Con biết rất rõ đây không phải là một công việc đơn giản mà Thầy đã phải gắng sức và vượt qua nhiều cam go thử thách, Thầy đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nhọc nhằn, chí nguyện và hoài bão vào công trình kiến thiết này, từ hai bàn tay trắng, vận động từng đồng từng cắc, có lúc tưởng chừng như bỏ cuộc, nhưng với ý chí sắt đá và đức tính kham nhẫn, Thầy đã đi đến nấc thang cuối cùng là xây dựng hoàn thành ngôi chùa này. “Quả thật là một việc phi thường ở đời” như lời tán dương công đức dành cho Thầy trong một lần viếng thăm Thiên Phú của Cố Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm (1911-2003), một nhà phiên dịch kinh điển PG nổi tiếng ở Nha Trang. Đúng như vậy đó, ai có duyên viếng thăm Thiên Phú Tự cũng đều trầm trồ ngợi khen và thầm thán phục tâm lực của Thầy đã cống hiến cho xứ sở VN một trung tâm Phật Giáo mang đậm nét văn hóa và mỹ thuật  như thế này. Đây là một món quà vô giá mà Thầy đã để lại cho đời. Đây cũng là một niềm hãnh diện và vinh dự lớn lao cho hàng đệ tử chúng con. Bước đầu Thầy xây nhà Tổ, rồi ngôi Đại Hùng Bảo Điện, nhà Đông bao gồm Tăng phòng và Tuệ Tĩnh Đường, rồi Đúc Đại Hồng Chung, rồi xây dựng nhà Tây và cuối cùng là xây dựng cổng Tam Quan và con đường làng. Thầy dự tính tổ chức lễ khánh thành Cổng Tam Quan vào mùa Vu lan báo hiếu năm nay, nhưng nghiệt ngã thay, chứng bệnh nan y của Thầy tái phát, Thầy phải nhập viện giải phẫu, để rồi cuối cùng thuận theo dòng pháp sinh diệt của thế gian vô thường mà từ giã trần gian này để đi vào cõi giới vô tung bất diệt. Thầy đã ra đi trong lúc Phật sự còn bề bộn, nhưng nhẹ nhàng và dứt khoát bỏ lại phía sau mình pháp hữu vi huyễn mộng:

Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng mà thôi.

Tấm lòng của Thầy thể hiện rõ trong Chúc Thư mà Thầy gởi lại cho hàng đệ tử chúng con, rằng các con phải tinh tấn tu tập, nỗ lực làm việc phụng sự Chánh Pháp, tục diệm truyền đăng, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Thầy mong chúng con là những đệ tử xứng đáng là người thừa tự Chánh Pháp, Thầy đã trao truyền mấy mươi năm qua chứ không phải thừa tự tài vật. Chúng con xin khắc cốt ghi tâm lời di chúc của Thầy để hầu viên thành các Phật sự dở dang mà Thầy đã để lại.

 3. Pháp tu Mật Tông

 Thầy là một hành giả Mật Tông Kim Cang Thừa, Thầy từng gặp Thượng Tọa Viên Đức tại Thủ Thiêm, Sài Gòn thọ học cốt tủy của Mật Giáo và sau đó Thầy hành trì theo bộ sách Hiển Mật Viên Thông. Trong tịnh thất của Thầy có thờ hình Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương, Thầy đã áp dụng thực hành Tam mật tương ưng, phương pháp trọng yếu của Mật Tông mong đạt đến diệu dụng của pháp tu này. Con có phước duyên làm thị giả Thầy trong các kỳ Thầy nhập thất tịnh tu, nên dần dần được ảnh hưởng và chú ý đến pháp tu Mật Tông này. Đó chính là nhân duyên thù thắng  mà Thầy đã trực tiếp gieo mầm hạt giống cho con làm quen với pháp tu này, đặc biệt là Thầy đã khai thị cho con về hành trạng tái sinh của các vị Lạt Ma Tây Tạng như ngài Padmasambhava, ngài Govinda, ngài Milarepa….Thầy đã bắt một chiếc cầu nối giữa con với Phật giáo thế giới bên ngoài, làm khơi dậy một thiện duyên cho con sau này tìm hiểu nghiên cứu dịch thuật các tài liệu về “Chết & Tái Sinh”, về “Phật Giáo thế giới”,v.v… con nhớ năm 2000 khi tập sách “ Chết và tái sinh” của con được xuất bản lần đầu tiên tại Úc, con gởi về kính dâng tặng Thầy, Thầy vui sướng đọc từ đầu đến cuối, vì đây là thành quả tu học của người học trò của mình và sau đó Thầy mang xuống tặng lại cho Ôn Chí Tín (Hòa Thượng Trụ Trì Chùa Long Sơn), rồi Ôn Trụ Trì đi photocopy ra nhiều bản để tặng lại cho Ôn Đỗng Minh và quý Thầy ở Nha Trang, đặc biệt là tặng cho đồng bào Phật tử trong bệnh viện tỉnh. Con cảm động và vui sướng khi nghe Ôn Đỗng Minh kể lại chuyện này. Thầy vẫn âm thầm, lặng lẽ theo dõi và hỗ trợ tinh thần trong công việc hoằng pháp của con ở hải ngoại này. Có thể nói, hầu hết các đệ tử của Thầy đều thuộc lòng các bài thần chú căn bản của Mật Giáo là Chú Chuẩn Đề, chú Đại Luân Nhứt Tự, Chú Đại Bảo Quảng Bát Lầu Cát, Chú Tỳ Lô Giá Na, đáng chú ý nhất là Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni chú, một bài chú mà các thời khóa tụng tại Chùa Thiên Phú đều được thọ trì. Thầy dạy rằng đây là bài thần chú có nhiều công năng thần diệu có thể bạt trừ nghiệp chướng và tịnh hóa tâm hồn một cách nhanh chóng.

 Kính lạy Giác Linh Thầy,

Dù thân tứ đại Thầy giờ đây không còn nữa
Nhưng giác tánh Thầy vẫn bất diệt vô sanh.

 Sự hiện thân 59 năm trên cõi trần gian, ròng rã suốt 49 năm nhập đạo tu tập và tận tụy quên mình phụng sự đạo pháp. Dẫu biết rằng sự hiện diện của con người trên cõi đời này không phải đánh giá bằng thời gian mình sống mà phải xem là mình sống và cống hiến như thế nào,  gần 60 năm của Thầy trong cõi giới này quả thật ngắn ngủi, nhưng đó là hạnh nguyện tùy duyên của Thầy như Thầy đã nói trước khi ra đi:

 “Nghiệp đã qua rồi lòng nhẹ nhõm
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong.”

 Quả thật vậy, việc tự lợi, lợi tha của Thầy đã viên mãn. Dù các pháp hữu vi cuối cùng rồi sẽ biến hoại theo cát bụi thời gian, nhưng hành trạng tu tập của Thầy là tấm gương sáng ngời và trở thành một bài học vô cùng quý giá, sinh động, khiến hàng đệ tử chúng con và những người có duyên với Thầy sẽ lấy đó làm mãi một thứ gia tài bất diệt theo thời gian.

Chu Tieu Nguyen Tang 1981

Chú tiểu Nguyên Tạng hình chụp năm 1981




Kính lạy Giác Linh Thầy,

Theo cái nhìn của nhà Phật thì con người ta đã chết đi từ thuở mới lọt lòng, chết là một phần tự nhiên của sự sống, mà tất cả chúng ta chắc chắn sẽ phải đối đầu không sớm thì muộn. Lúc cái chết thực sự đến với ta cũng là lúc những kinh nghiệm nội tâm lợi lạc sâu xa nhất có thể xảy ra, do đó một hành giả có thể sử dụng cái chết của mình để đạt những chứng ngộ tâm linh lớn lao nhất. Dù liễu đạt như vậy, nhưng trong lòng con vẫn cảm thấy xót xa, kính thương và chạnh lòng đau đớn khi vắng hình bóng của Thầy. Không còn Thầy trên trần gian này nữa chúng con cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, mất đi một chỗ tựa nương, một tàng che mát, làm vơi đi bao nỗi phiền lụy, nhọc nhằn của chúng con trên bước đường trở về cội nguồn tâm linh.

Ngôn bất tận ý, con không thể dùng ngôn ngữ của thế gian để bày tỏ tận cùng lòng kính nhớ tiếc thương của con đối với Thầy, con chỉ biết tự nhắc nhở mình tinh chuyên sống theo chánh pháp, giới luật và những lời Thầy khuyên dạy để  tu tập và làm việc, để ngõ hầu đền được phần nào thâm ân sâu nặng của Thầy đã nhọc lòng giáo dưỡng tâm linh và trí tuệ cho con.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy gia ân, phù hộ cho các sư đệ của con, những người đang kế thừa Thầy trong nom ngôi Già Lam Thiên Phú và Phước Sơn Tu Viện.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy tiếp sức cho con luôn có niềm tin trong tiến trình tu tập tâm linh và công cuộc  hoằng dương chánh pháp.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy cao đăng Phật quốc và sớm tái sinh trở lại thế giới Ta Bà để tiếp tục sứ mạng “thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh”

 

Nam-mô Tự Lâm Tế Chánh Tông, Tứ thập nhị thế, Khai Sơn Thiên Phú Tự, Phước Sơn Tu Viện, trụ trì, huý thượng Trừng  hạ Lộc, tự Chơn Kiến, hiệu Ấn Minh Thượng Tọa Giác Linh, thuỳ từ chứng giám.

 

 

Đệ tử của Thầy,

Tỳ Kheo Thích Tịnh Tuệ
(Pháp danh Nguyên Tạng)

(xem bài cùng tác giả)

 

Ý kiến bạn đọc
06/03/201608:34
Khách
A Di Đà Phật

http://dophatgiao.vn/
19/04/201509:56
Khách
Nam Mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/06/201207:27(Xem: 1713)
8 Điểm Gặp Gỡ Kinh Nam và Bắc Tạng
24/02/201112:28(Xem: 1956)
8 Điểm Gặp Gỡ Kinh Nam và Bắc Tạng - HT Thích Chơn Thiện giảng
09/04/201316:58(Xem: 8839)
Audio: Bồ Tát Chuẩn Đề, bài giảng của TT Nguyên Tạng tại Chùa Phước Long, Connecticut, Hoa Kỳ, do HT Thích Minh Đức trụ trì
11/12/201320:44(Xem: 7404)
Audio: Chân hạnh phúc, bài giảng của Thầy Nhttp://quangduc.com/a51712/audio-chan-hanh-phucguyên Tạng
09/04/201316:55(Xem: 3595)
Pháp Thoại: Chánh Kiến Chủ giảng: TT Thích Nguyên Tạng
29/03/201318:19(Xem: 3876)
Pháp thoại: Chánh Ngữ bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng tại Trung Tâm Mắt Thương Nhìn Đời, Santa Anna, California, Hoa Kỳ
29/03/201315:29(Xem: 3140)
Chủ đề: Đại Trí - Đại Hạnh Bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng giảng tại Thiền Viện Chánh Pháp, Oklahoma, USA
22/02/201708:45(Xem: 6058)
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA CON TRAI CỦA TÔI (DALAI LAMA, MY SON) Tự truyện của mẫu thân Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tác giả: Diki Tsering Biên tập & giới thiệu:Khedroob Thondup Việt dịch: Thích Nguyên Tạng Diễn đọc: Quảng Thiện Duyên