Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Câu chuyện cái tơi

24/12/201005:02(Xem: 3013)
Câu chuyện cái tơi

  cai_toi

      Từ ngày định cư ở một xứ hiếm mưa, lắm lúc tôi tưởng chừng như không còn nhớ nhiều đến những cơn mưa vùng nhiệt đới; mưa quê hương, nhất là những cơn mưa dai dẳng của một xứ "mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn", mưa xứ Huế!

      Nhưng không, chiều nay nhìn học sinh tan học ra về trong cơn mưa, bao kỷ niệm của quê hương mưa dầm, trong đó cái tơi là một dấu ấn đậm đà nhất, đã đưa tâm hồn tôi vượt thời gian, vượt biển cả về với quê hương, về tận miền Trung mà đặc trưng là xứ Huế thân yêu; rồi thơ thẩn đậu lại trong sân trường Đồng Khánh, nơi tôi đã được lớn lên, được đào luyện, được phục vụ trong gần hết cả cuộc đời giữa bao hàng Phượng vỹ.

      Những em bé tan trường như những chú chim non đi ngang qua nhà tôi hôm nay với đầy đủ phương tiện văn minh chống mưa, chống rét, khiến tôi chợt se thắt nghĩ đến kỷ niệm của chính tôi trong chiến tranh với phương tiện che mưa duy nhất thật thô sơ lúc bấy giờ là "cái tơi“ phụ kèm cái nón.

      Tơi - nón là một cặp. Cái tơi không thể không đi chung với cái nón. Nhưng nón được dùng quanh năm, gặp thời tiết đẹp, nón được dịp phô trương vẻ nên thơ của nó; cho nên văn nhân thi sĩ không hề tiếc bút mực để ca tụng vẻ đẹp của cái nón, nhất là chiếc nón bài thơ, lại là chiếc nón bài thơ của miền sông Hương núi Ngự!

      Còn cái tơi, bản chất nó đã chìm sâu vào dĩ vãng mà vang bóng của nó cũng không hề lưu lại trong văn chương ít nhiều. Cái tơi là tiền thân của áo mưa hiện tại, là vật dụng che mưa của người Việt Nam từ nửa thế kỷ 20 về trước.

      Tơi được làm từ lá một loại cây Palm vùng nhiệt đới. Lá tơi được chằm lại với nhau, lớp nọ được bẻ chồng lên lớp kia thành một tấm lá dày hình chữ nhật. Cạnh ngang trên được xâu thành vai và cổ, có một sợi dây cột lại thành cổ tơi. Phần dưới lá được cắt phẳng và được rút lại thành chân tơi.

      Mang tơi là chui qua đầu, cái tơi được phủ từ vai xuống trở thành gần như diện tích một hình lăng trụ bao quanh người, dài gần tới mắt cá.

      Người mang tơi xa trông như một chú Pinguin! Tùy hướng mưa hướng gió, người mang tơi xoay mép tơi quanh mình sao cho khỏi ướt. Nếu như nón có nhiều kiểu nhiều tên kiêu sa như nón bài thơ, nón gò găng, nón tam giang, nón thượng.... thì cái tơi, hình thái giản dị mà cái tên cũng gần gũi, bình dân như tơi cá, tơi đọt, tơi cánh gà...

      Vật liệu để chằm Tơi cá là lá tơi già. Màu xanh đậm của lá phơi khô trở thành xám bầm bạc bạc. Tơi cá vừa rẻ vừa tiện, rất thích hợp cho đa số người bình dân trong mùa mưa gió.

      Sang hơn, bền hơn mà cũng ấm áp hơn thì có Tơi đọt. Tơi đọt làm bằng lá tơi non màu trắng ngà, phơi được nắng thì có màu vàng cam non, dở nắng thì ngả sang màu vàng nâu sẫm. Lá khô được ủi thẳng có hình như bàn tay xòe ra mà các ngón tay là đuôi lá mềm mềm, nhọn nhọn. Vai tơi đọt vừa rộng vừa ngang chứ không xệ xuôi như tơi cá.

       So với những vật dụng che mưa ngày càng tiến bộ, cái tơi quả có nhiều bất tiện, thua kém. Nhưng bộ máy chọn lọc nhiệm mầu của ký ức sao chỉ còn để lại trong tôi những kỷ niệm vặt vãnh, dễ thương gắn liền với cái tơi trên những bước đường đi học của thời thơ ấu.

      Nhớ lại cái mưa dầm của xứ Huế, mưa dai dễ sợ, lạnh dễ sợ... mà gió cũng dễ sợ! Đoạn đường dài đi bộ dưới mưa từ Thành Nội qua trường Đồng Khánh lại phải qua cầu Tràng Tiền "dài" lê thê! Nhưng cảm giác còn lại trong tôi chỉ là sự ấm áp, cái ấm áp của một đứa bé được che mưa trốn gió trong chiếc tơi dày nhất là khi được lúc thúc đi trong cái tơi với một bọc bắp rang đầy trong túi áo và bất chợt một đôi khi là sự nao nao se thắt!

      Cái tơi đầu tiên trong đời tôi thật nhiều kỷ niệm gắn liền với trường Đồng Khánh. Mùa khai giảng, cô tôi đã dắt tôi ra chợ Đông Ba mua một cái tơi và một cái nón. Cô cẩn thận dắt tôi theo để đo cho vừa. Cái tơi cô mua cho là một cái tơi cá. Cô lựa kỹ để chọn cái có lá sáng hơn một chút, cô trải bề trái cái tơi, rờ rờ từng đường chỉ, nắn vòng vai coi có chắc không, rồi ướm vào thân hình tôi xem có vừa không? Xong cái tơi vừa ý, cô mua thêm cái nón mười lăm vành và nài thêm một cái dải nón. Cô chụp cái nón lên đầu tôi trong bộ tơi nón mới rồi gõ gõ trên nón cười: " Ngó như tai nấm! "

      Ra khỏi chợ Đông Ba một lúc, trời đang tạnh bỗng rỉ rả mưa. Tôi kéo cô núp dưới mái hiên tiệm ăn Quốc-tế cho đỡ ướt bộ tơi nón mà tôi muốn dành trọn vẹn cho ngày mai. Cô tôi không ngạc nhiên trước ý tưởng ngây ngô ấy, chỉ chép miệng:" Hùm! giữ được hoài răng, mưa Huế mà! "

      Hồi hộp chờ đợi ngày mai đến trường, tôi thức khuya, xếp vuốt chiếc áo bằng vải dù đen, cái quần trắng, mấy quyển vở với cán bút, cặp tơi nón mới cũng được chiếm một địa vị cao hơn nhà bếp, được móc lên cao như một chú bù nhìn. Mưa dầm gió bấc nhưng nép trong cái tơi cá với một bọc bắp rang, đôi chân bé nhỏ đã được đỡ lạnh bằng đôi guốc gỗ. Nhưng khi về nhà mới thấy nhức rát ở sau chân. Quay lại cúi nhìn thì hai nhượng chân đều đã chảy máu. Cái tơi cá mới với hàng lá rất sắc đã cứa chân tôi trong mỗi bước đi mà tôi không hay biết!

      Mùa đông năm ấy đánh dấu một chuỗi ngày mới của đời tôi. Cùng với cái tơi, tôi hãnh diện được chen chúc trong hàng ngũ của những nữ sinh Đồng Khánh mà nhiều người hằng mong ước. Tôi được vào lớp Đệ Thất B2, lớp lớn nhất trường lúc bấy giờ chỉ mới đến Đệ Tứ mà thôi.

      Đây là thời gian cam khổ, hàng nhập cảng chưa thông, hàng nylon chưa có; một số ít còn giữ được những cái áo tơi dầu dưới thời Pháp thuộc, ngoài ra là tơi cá và tơi đọt. Áo tơi dầu bấy giờ chưa gọi là cái áo mưa, là loại áo giống như áo manteau có hai mặt, mặt trong là vải dày như nỉ, mặt ngoài có phết lớp dầu màu đen. Loại áo này cũng sột soạt và kém chịu nắng. Hễ áo hơi cũ là mặt dầu rạn nứt làm cho áo dễ bị thấm nước mưa nhưng đó là loại sang nhất thời bấy giờ. Cả trường chỉ đếm được mấy áo của cô Hiệu trưởng và một số ít thầy cô. Đến Tết năm đó áo mưa nylon đầu tiên xuất hiện tại trường Đồng Khánh. Hai bạn trong lớp tôi được dì và chị từ Pháp gởi về cho hai áo mưa nylon đầu tiên tại trường và có lẽ cả trong thành phố Huế?

      Ngày đầu hai bạn mang tới, cả trường trố mắt đứng ngó theo. Xinh đẹp làm sao! một cái màu xanh, một cái màu đỏ, tươi thắm giữa lùm xùm những nón cùng tơi ủ dột ướt át. Lại còn cái mũ áo nữa, bạn kéo lên trùm đầu thay cái nón, đẹp đẽ gọn gàng chắc lại còn ấm đầu, ấm tai nữa(?) và văn minh ghê! Bước lên thềm, bạn cởi áo, chỉ cần rũ nước và xếp nhỏ lại cho vô hộc bàn; chắc chắn là nhiều người mơ ước lắm nhưng trong đó chưa có tôi! Niềm mơ ước của tôi chỉ mới dừng ngang cái tơi đọt mà chưa có, huống gì cái áo mưa tân tiến đó!

      Con đường đi học của tôi đã xa mà phải qua thêm một cây cầu nhiều gió. Hằng ngày vào giờ đi học cũng như vào giờ tan trường, học sinh Đồng Khánh nối nhau hàng một qua cầu. Trời nắng, áo trắng, nón trắng làm đẹp cầu bao nhiêu thì trời mưa, tơi cá, tơi đọt, nón xám đen trông ủ dột bấy nhiêu! Cái tơi quả có quá nhiều nhược điểm. Mang tơi cá mới, trước hết là phải chịu cảnh "lòng quê đi một bước đường một đau" cho đến khi cái chân tơi hết bén. Cái bất tiện hằng ngày cho học sinh chúng tôi là phải cất nón chào thầy cô khi đang mang tơi. Cái tơi được xoay mép theo chiều ngược gió, gặp thầy cô liền phải xoay lại ra trước để có thể thò tay ra đưa lên giở nón. Thật ra thì cũng không phải là giở hẳn, chỉ cần nhích nghiêng cái nón cho có điệu, cọng với cái cúi đầu và một ánh mắt thay lời chào là đủ.

      Nhưng chỉ trong tích tắc đó thôi, cũng đã đủ cho nước mưa hắt vào mép tơi ướt dọc thân mình, lại còn theo cổ mà chảy ròng qua vai, xuống tới nách, chảy suốt dọc theo cánh tay. Mưa Huế mà! Ướt và lạnh! Nhưng có ai bắt phải chào đâu? Các thầy cô cũng thông cảm nên có lẽ không ai muốn đối diện để bắt học sinh cất nón chào nhưng phần mình vẫn thích, vẫn cố tìm cách để chào. Được chào thầy cô, thấy vui vui, tâm trạng hay hay, một chút hãnh diện được làm học sinh Đồng Khánh!

      Mang tơi, dù phải đi vòng qua cầu, xa hơn nhiều, tôi chẳng dám qua đò Thừa Phủ, bởi cái tơi cá hoặc tơi đọt cứng ngắt, người ta không thể ngồi ở mép đò. Nhiều người đứng thì đò dễ mất thăng bằng nhất là khi gặp gió mạnh, những cái tơi trở thành vật cản gió, đò càng dễ lật. Chìm đò với cái tơi cột quanh cổ thì chỉ có nước làm bạn với thủy tề mà thôi!

      Tuy nhiên, muốn thấy được cái ưu điểm lớn nhất của cái tơi, tưởng cũng nên quay về nơi thôn dã. Đối với người nông phu làm việc giữa ruộng đồng nhất là những người đi cấy lúa, đi nhổ cỏ, với cái thế của con người chồm bò trên ruộng mạ, cái tơi có tác dụng như một cái mền cứng phủ xuôi trên lưng, vừa ấm, vừa ngăn được mưa, chắn được gió mà không làm trở ngại phần đầu phải cúi xuống, cũng như không vướng bận đôi tay thoăn thoắt làm việc. Trường hợp này tơi cá lại tiện dụng hơn tơi đọt vì ít cứng hơn và mép tơi mở rộng hơn.

      Cái tơi còn một biến thể khác thích hợp cho những người lao động mà đôi tay cần di chuyển như kéo xe, chèo đò gọi là "tơi cánh gà". Tơi này gồm hai phần trên dưới nối lại với nhau, có hai chỗ hở cho đôi tay thò ra, hai tay được che bằng hai mảnh tơi xòe ra như hai cánh gà. Đối với tất cả các nghề lao động nói trên làm việc không kể mưa rét, cái tơi quả có đem lại ấm áp hơn là áo nylon sau này. Chả thế mà người phụ nữ nông thôn khi lo lắng cho chồng làm việc dưới mưa dầm gió bấc đã gởi gắm được chút tin cậy vào cái tơi:

                          Trời mưa thì mặc trời mưa

                          Chồng tôi đi bừa đã có cái tơi.

                                                     (ca dao)

      Không hiểu có phải riêng tôi vì cảm tình, kỷ niệm chi phối cách nhìn mà hình ảnh "cái tơi" trở về trong ký ức của tôi cũng quyện lẫn với bao nhiêu hương vị ngọt ngào của kỷ niệm, bàng bạc giữa mùi thơm ấm áp của bắp rang, đậu phụng, bánh mì...

      Đêm đông giá buốt ngồi học khuya, nghe tiếng rao lanh lảnh "ai ăn bánh mì không?" sẽ nghe được cả mùi thơm của bánh mì thoang thoảng từ xa ngoài đường cái. Tôi rã rũ mấy quyển vở cầu may có khi rụng ra một đồng do nhịn tiền đò ngang hôm trước. Chú bé bước vào với cái tơi cá nằm nghiêng che gọn bao bố đựng bánh mì hơn là che người. Chú bê bao mì đặt trên bực thềm và hắt cái tơi ra, mùi thơm tỏa lên ngọt ngào chi lạ! Bánh mì ủ trong mấy lần bao bố cũng được "mang tơi" cẩn thận, vẫn nóng, vẫn giòn và thơm ngon dễ sợ!

      Thế hệ trẻ ngày nay, thức ăn dư thừa không thể nào cảm nhận được những cảm giác đó. Những cảm giác bắt nguồn từ vị giác, khứu giác thẩm thấu vào ruột gan rồi xuyên qua tim, suốt não và đọng lại trong vòng lưu trữ của kỷ niệm mà theo đó, hình ảnh cái tơi cũng dập dềnh như những nét chấm phá của bức tranh xưa.

      Mùa mưa năm sau nữa, tôi cũng được thăng hoa. Băng qua giai cấp tơi đọt mà tôi từng mơ ước, tôi nay đã súng sính trong chiếc áo mưa nylon màu xanh da trời. Áo mưa vừa tiện lợi vừa đẹp đẽ nhưng mỗi lúc qua cầu lạnh gió, nhất là những lúc mà hàng khuy nút dẫn nước mưa chui tuột vào đẫm ướt thân hình, tôi bỗng lại thấy thích nhớ cái tơi ấm áp ngày nào!

      Thực tế thì cũng tùy vùng, tùy lúc, cái tơi cũng vẫn còn xuất hiện rải rác ở các địa phương hẻo lánh, xa hẳn ánh sáng thị thành. Đôi lúc qua những vùng đó, bất chợt tôi còn thấy lại những cái tơi lá hoặc hơn nữa là những cái tơi làm bằng bao cát nylon phế thải từ những đồn bót điêu tàn, tôi xót thương cuộc sống vẫn còn khổ nghèo, lạc hậu dai dẳng của đồng bào tôi.

      Cái tơi cá, tơi đọt, cái áo dầu đã theo luật tiến hóa của xã hội mà biến dạng chuyển mình, lớp sau đẩy lớp trước cùng lùi dần vào dĩ vãng. Vật thể tiêu biến nhưng hình ảnh tồn tại, cho dù hình ảnh có nhạt nhòa nhưng kỷ niệm vẫn khắc ghi đậm sâu mãi trong lòng!

      Nắng cháy mưa tuôn mà có được chiếc tơi, chiếc nón đúng lúc, thiết thực và thân thương biết chừng nào tinh thần lá lành đùm lá rách.

      Ngày nay, sau nửa trái đất xa xôi vạn dặm, sau nửa thế kỷ dài, cô bé với chiếc tơi cá đứng dưới gốc cây phượng già trong sân trường ngày xưa vẫn còn quanh quẩn với bao hàng cây phượng vỹ đang cố nở hoa trên xứ người (nhóm Phượng Vỹ - Houston) gởi mến thương theo từng cánh hoa học trò đang bay về quê cũ, mong biến thành những chiếc nón, chiếc tơi đến với những đồng nghiệp đang còn cơ cực trong những lúc nắng lửa mưa dầm.

 

                        Chiếc tơi hoài niệm mà thương,

                        Cho nhau ấm áp để vương nhớ hoài!

 

      Còn chiếc áo tơi thật sự qua bao thế hệ đã phôi pha theo đà tiến hóa. Nó cũng cùng chung số phận như "Ông Đồ" qua bài thơ nổi tiếng của Vũ đình Liên:

                             ....

                            Ông Đồ vẫn ngồi đó,

                            Bên đường không ai hay.

                             ....

      Đã đi vào quên lãng. Nhưng chiếc áo tơi của một thời thể hiện nếp sống sinh hoạt của người dân Việt xưa trong bối cảnh còn lạc hậu, nông nghiệp là chính. Tuy vị trí của nó không sâu đậm như chiếc áo dài quốc hồn, quốc túy hay chiếc nón lá vẫn còn tồn tại đến bây giờ nhưng nó cũng là một hình ảnh rất gần gũi, thân thương của người dân nghèo và bàng bạc đậm nét quê hương.

      Rất tiếc còn lại chăng chỉ là trong ký ức!!

 

                                                                              Viết để nhớ lại những ngày ấu thơ

                                                                                            Tháng 2/2014

                                                                                          Nguyên Hạnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/202009:06(Xem: 285)
Theo thống kê cho thấy, những tội phạm tuổi thiếu niên thường có cơ thể khỏe mạnh hơn những thiếu niên biết tuân thủ pháp luật ở cùng độ tuổi. Nhưng sau khi họ bước vào tuổi trung niên thì tình hình sức khỏe lại xuống dốc nhanh chóng, nguy cơ nằm viện và bị tàn tật cao hơn nhiều lần so với người bình thường. Điều này khá dễ hiểu, rất có thể là có quan hệ tới thói quen sinh hoạt không tốt và trạng thái tâm lý tạo thành.
17/09/202013:10(Xem: 848)
Thư viết lần cuối gửi Anh Bốn và Chị Năm Hôm nay là tuần một trăm ngày của Anh Bốn và cũng tiện thể Gia Đình làm lễ cầu siêu tuần 49 ngày cho Chị Năm. Từ xa xôi hơn nữa vòng trái đất Hòa Thượng Bảo Lạc và tôi có mấy lời để tiễn đưa Anh Chị lần cuối
29/08/202018:46(Xem: 927)
Trong hơn một tuần qua, theo “tintuc60giay.com” ngày 24/8/2020, đã có hơn 100.000 cư dân được sơ tản và lửa đã đốt cháy hơn 991.000 acres. Đây là trận cháy rừng lớn nhất tại California. Có hơn 13.700 lính cứu hỏa đang đấu tranh để cứu những người dân và nhà của học. Thành phố Vacaville là nơi bị thiệt hại rất nặng! Thật mầu nhiệm! Trung tâm tu học Phổ Trí, một ngôi chùa Việt tọa lạc tại số 7233 Pleasants Valley Road, thành phố Vacaville có diện tích 5 acres, được Thượng tọa Thích Từ Lực sáng lập vào năm 2012 làm nơi tu học cho tăng thân Việt - Mỹ còn nguyên vẹn.
27/08/202004:38(Xem: 696)
Kính chiếu yêu ma bài viết của Cư Sĩ Huệ Hương (ở Melbourne, Úc Châu) Do Phật tử Diệu Danh (Hannover, Đức Quốc diễn đọc) Mười năm về trước khi đọc " CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI " của Sư Ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh tôi vẫn không hề nghĩ đến có ngày mình phải dùng kính chiếu yêu này ... không phải cho người khác bên ngoài mà chính là dùng để soi rọi vào những con ma đang ẩn núp trong rừng tâm của tôi quá chằng chịt và rậm rạp nơi mà tập khí được chôn vùi và đã trở nên hoang dại đến nỗi rất khó để tháo gở được những rễ dây đã bám sâu trong đất Tâm này
25/08/202003:25(Xem: 730)
Lời người dịch: Thành phố Melbourne hiện vẫn còn trong thời gian phong tỏa giai đoạn 4 kéo dài đến giữa tháng 9 và cũng thuộc tiểu bang bị nhiễm bệnh cao nhất nước Úc hiện nay. Mỗi ngày thức dậy, người dân Melbourne lại được cập nhật với những tin tức số người bệnh, số người chết mỗi ngày... khiến nhiều người lo lắng, bất an. Những người thân gần xa cũng thăm hỏi, lo lắng cho người Melbourne. Cộng đồng người Việt dù có ý thức cao về việc tuân thủ các luật lệ và phòng ngừa nhưng vẫn nằm trong danh sách những cộng đồng sắc tộc có tỉ lệ mắc bệnh covid-19 cao. Tuần qua, khi đọc Facebook của Bệnh viện Western Heath, QT tìm thấy câu chuyện thú vị và cảm động của một cô gái Việt cũng là bệnh nhân covid-19 đã chia sẻ trên báo Herald Sun. QT hy vọng những tâm tình của Tina sẽ giúp mọi người hiểu thêm về những trải nghiệm của người bệnh để mình cố gắng tự bảo vệ và đề phòng cho mình và gia đình để không bị mắc phải căn bệnh này. Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tá
17/08/202019:20(Xem: 465)
Nhớ lại thuở xa xưa khi tôi mới chỉ là cô bé 6,7 tuổi, thỉnh thoảng vào chiều thứ Bảy, Mẹ thường dẫn tôi về thăm ông Ngoại. Gần nhà Ngoại có Chùa Linh Quang và Khuông Tuệ Quang, nên lần nào về thăm Ngoại là tối đó Mẹ cũng dẫn tôi đến Khuông Tuệ Quang để tụng kinh, tôi rất thích mặc dù tôi chưa biết tụng kinh và tụng để làm gì. Tôi chỉ thích nghe âm vang lời kinh tụng hòa chung với tiếng mõ nhịp nhàng, cùng tiếng chuông thỉnh thoảng ngân vang, và thích nhất là được nghe tụng Chú Đại Bi, tuy không nghe ra được chữ gì, nhưng thích cái âm điệu dồn dập lúc trầm, lúc bổng của thời kinh. Không hiểu sao mà tôi rất mê nghe tụng chú Đại Bi, nên mỗi khi gần nhà có đám tang, là tôi luôn tìm cách đến xem lúc có ban hộ niệm cúng, để được nghe tụng Chú Đại Bi, và thầm thán phục, sao mà các bác ấy có thể thuộc làu những lời kinh như vậy!
16/08/202017:23(Xem: 466)
Thân phụ Ngài là một nhà Nho, nên Ngài đã được thụ giáo từ khi mới lên 5 tuổi. Đến 7 tuổi Ngài được vào học trường huyện. Nhờ bẩm chất thông minh, Ngài luôn chiếm ưu hạng. Sau một thời gian Ngài được chuyển lên học trường tỉnh. Đây là nơi Ngài có thể sôi kinh nấu sử để mai sau danh chiếm bảng vàng, làm rạng rỡ tông đường. Ngờ đâu ngày 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) kinh đô Huế thất thủ. Vua Hàm Nghi phải xuất bôn, và xuống chiếu Cần Vương. Vừa lúc đó có kỳ thi Hương tại trường thi Bình Định, các sĩ tử cùng nhau bãi thi, phá trường, hô hào tham gia phong trào Cần Vương, chống Pháp cứu nước. Ngài cũng xếp bút nghiên, gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Bình Định của các Ông Mai Xuân Thưởng, Bùi Điều.
14/08/202012:02(Xem: 715)
Thuở trung học, tôi rất yêu môn toán. Những con số cộc lốc khô khan nhưng rõ ràng 1 với 1 là 2 đi vào đầu tôi êm ái nhẹ nhàng hơn những bài văn thơ trữ tình, ướt át. Tôi rất dốt, thường đội sổ môn Việt văn. Giữa khi một đề bài Thầy, Cô đưa ra: “Hãy tả tâm trạng cảm giác của em khi một ngày dự định đi chơi mà bị mưa không đi được„ Bạn tôi, đứa “sơ mi„ (nhất điểm) luận văn khi phát bài luôn được đọc cho cả lớp nghe, viết: “Thế là hôm nay em phải ở lại nhà vì một trận mưa như trút nước. Mưa càng lúc càng nặng hạt, dai dẳng suốt từ chiều hôm qua. Bầu trời vẫn còn u ám, xám xịt, không có dấu hiệu của một trận mưa sắp dứt, một ngày quang đãng. Em buồn nằm nhà, cuộn mình trong chăn nghe bên ngoài mưa rơi tí tách, gõ nhịp trên máng xối„ Thì bài của tôi: “Đùng...đùng...tiếng sét nổ vang. Nhìn ra bên ngoài bầu trời đen thui rồi nước ở đâu từ trên máng xối đổ xuống ào ào. Nước mưa chứ ai. Ghét dễ sợ. Không được đi chơi như dự định rồi. Buồn thỉu buồn thiu„ Bài viết cộc lốc khô cứng như cục đá. Ng
13/08/202015:54(Xem: 380)
Chuyện đọc kinh sách (do cư sĩ Tường Dinh sưu tầm và diễn đọc)
10/08/202020:05(Xem: 699)
Ngày xửa ngày xưa, dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một vương quốc trù phú tên gọi Thắng Man. Dù là một vương quốc giàu mạnh nhưng lòng người ở đây không thành thật, sống trên những giá trị giả dối, phù phiếm. Tại ngôi chợ bên ngoài hoàng thành có một người đàn ông sống bằng nghề bán mũ. Mũ của anh chàng này rất đẹp nhưng không hiểu sao hàng ế ẩm nên anh chàng toan tính bỏ nghề, tìm nghề khác sinh sống. Trên đỉnh núi quanh năm tuyết phủ có một nhà tiên tri, theo lời đồn có lẽ tu hành cả trăm năm và đã thành tiên. Nhân vương quốc cho mở đại hội để người dân vui chơi, ăn uống thỏa thích, nhà tiên tri chống gậy xuống núi để quan sát nhân tình, nhân đó tiên đoán vận mệnh của vương quốc. Trong dòng người hỗn độn, đủ thứ trò vui chơi vô cùng náo nhiệt, nhà tiên tri dừng lại bên cửa hàng bán mũ. Thấy một người đàn ông đang ngồi ủ rũ, nhà tiên tri hỏi: