Lưu Hiểu Ba Và Tình Yêu Bên Trong Bức Tường Xám

13/10/201007:14(Xem: 6031)
Lưu Hiểu Ba Và Tình Yêu Bên Trong Bức Tường Xám

luu_huu_Ba
Lưu Hiểu Ba Và Tình Yêu Bên Trong Bức Tường Xám

Huỳnh Kim Quang

Vào Thứ Sáu, ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình Na Uy đã công bố giải Nobel Hòa Bình năm 2010 được trao cho Lưu Hiểu Ba.

Lưu Hiểu Ba, sinh năm 1955 tại thủ phủ Trường Xuân của tỉnh Cát Lâm ở đông bắc Trung Quốc, là nhà tranh đấu bất bạo động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Trung Quốc. Ông đã từng tham gia phong trào sinh viên đấu tranh trong biến cố Thiên An Môn năm 1989 và sau đó liên tục bị sách nhiễu, quản chế tại gia và tù tội. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, ông đã bị bắt vì cùng một số nhà tranh đấu dân chủ và nhân quyền Trung Quốc công bố Hiến Chương 2008 đòi xóa bỏ chế độ cai trị độc đảng để tiến tới một xã hội dân chủ cho Trung Quốc. Hiến Chương 2008 cho đến nay đã có hơn 8,500 người tham gia ký tên. Vì Hiến Chương 2008, Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền cộng sản Trung Quốc kết án 11 năm tù. Hiện ông vẫn còn ngồi tù ở Liễu Ninh, Trung Quốc.

Ngoài lãnh vực đấu tranh bất bạo động không mệt mỏi cho tự do, dân chủ và nhân quyền, Lưu Hiểu Ba còn sáng tác hàng trăm bài thơ và nhiều bài văn được nhiều người tán thưởng. Điều kỳ diệu mà ít ai biết đến là trong những sáng tác thi văn đó, Lưu Hiểu Ba để lộ khuôn mặt của con người đầy ắp tình yêu và tình người.

Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Trung Tâm Văn Bút Mỹ đã trao giải thưởng PEN/Barbara Goldsmith Freedom 2009 cho Lưu Hiểu Ba. Rất tiếc, ông đang ngồi tù không đến được để nhận giải. Vợ ông, Lưu Hà, cũng không đi được, vì bị quản chế tại gia, nên đã viết thư cho Trung Tâm Văn Bút Mỹ bày tỏ cám ơn khi họ chọn Lưu Hiểu Ba để trao giải thưởng cao quý này.

Trong thư gửi cho Trung Tâm Văn Bút Mỹ, bà Hà viết rằng, “Tôi rất đam mê thơ và vẽ, nhưng cùng lúc, tôi không nhìn Hiểu Ba như một khuôn mặt chính trị. Trong mắt tôi, anh ấy luôn luôn là một nhà thơ nghiêm túc và cần cù. Ngay cả trong tù, anh ấy cũng tiếp tục làm thơ. Khi cai tù lấy đi giấy viết của anh, anh lôi thơ ra thả vào không khí.”

Trong mắt bà Hà, ông chồng Lưu Hiểu Ba vĩnh viễn là một nhà thơ. Tuyện vời và thơ mộng biết bao! Với câu nói ấy, chắc chắn Lưu Hiểu Ba sẽ cảm nhận được sâu sắc hơn ai hết niềm hạnh phúc của người chồng. Không phải thế sao? Trong tất cả ngôn ngữ của loài người, thơ là thứ tiếng nói thật thà nhất. Đọc thơ, người ta dễ dàng cảm nhận một cách trung thực tâm ý của người làm thơ. Tình yêu được chuyên chở qua ngôn ngữ thơ, do đó, chắc chắn là tình yêu chân thật làm rung động lòng người. Bà Hà làm sao không yêu thích và không muốn ông chồng Hiểu Ba là một nhà thơ!

Tuy nhiên, bà Hà không vì yêu thơ tình của chồng mà muốn Hiểu Ba luôn luôn là nhà thơ. Bà nhìn thấy được điều gì đó sâu và xa hơn biên giới của tình yêu chồng vợ. Bà viết trong lá thư gửi cho Hội Văn Bút Mỹ: “Tôi cảm nhận Hiểu Ba đang dùng ý chí và cảm xúc như một nhà thơ để đẩy phong trào dân chủ tiến tới tại Trung Quốc. Anh ấy la hét như một nhà thơ “không, không, không” đối với những nhà độc tài. Trong chỗ riêng tư, anh ấy thì thầm với những tâm hồn chai điếng của ngày 4 tháng 6, những người, cho đến hôm nay, vẫn chưa nhận được công lý, cũng như với tôi và tất cả bạn bè của anh: “vâng, vâng.””

Không có chất thơ trong người như dưỡng tố, Lưu Hiểu Ba đã trở thành xác không hồn trong ngục tù từ lâu! Thơ nuôi sống Lưu Hiểu Ba. Thơ tiếp sức cho nghị lực, lý tưởng và tình yêu của Lưu Hiểu Ba. Lưu Hiểu Ba thở và sống bằng thơ. Thơ làm sạch thân tâm của Lưu Hiểu Ba. Thơ làm cho thần trí Lưu Hiểu Ba sáng rực. Thơ làm cho tâm hồn Lưu Hiểu Ba rộng mở. Thơ làm trái tim Lưu Hiểu Ba dịu ngọt. Thơ nối liền giao cảm giữa hai tâm hồn yêu nhau mà thân xác không được gần nhau của Hiểu Ba và Hà. Thơ làm cho Lưu Hiểu Ba hạnh phúc ngay trong lao tù khổ nhọc. Trong bài thơ “Muốn Trốn,” Lưu Hiểu Ba viết cho vợ:

“bỏ qua các liệt sĩ hình tượng

anh muốn nằm dưới chân em, ngoài

việc sắp chết đây còn là

một bổn phận của anh

khi tấm gương lòng mình

trong sạch, hạnh phúc sẽ lâu dài”

Lòng trong sạch vì không một mảy may vẩn đục nào thoáng qua ý tưởng, lời nói và hành động. Lòng trong sạch vì đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho dân chủ và nhân quyền của dân tộc. Lòng trong sạch vì đã giữ một trái tim trong sáng cho tình yêu với người vợ hiền. Chính đức tính trong sạch đó là hạnh phúc, và là hạnh phúc chân thật lâu dài.

Nhưng chính tình yêu cao đẹp mà Lưu Hà dành cho chồng, Lưu Hiểu Ba càng chia xẻ và cảm thông sâu sắc nỗi đau và mất mát to lớn mà vợ ông gánh chịu. Những vầng thơ tình của chàng họ Lưu viết cho vợ vì vậy, không mượt mà, lãng mạn, ủy mị, không tình tứ yêu đương, mà có âm vị cay, đắng, trống vắng, và tiếc nuối, dù là bài thơ được làm lúc tinh sương của “Rạng Đông.”

“rạng đông trống vắng mênh mông

em ở nơi xa

với những đêm ấp ủ tình nồng”

Ngồi trong xà lim, tối tăm mịt mùng, người tù họ Lưu chỉ nghe tiếng bằm rau cải bên ngoài làng dân dã để đoán biết lúc này là rạng đông. Có lẽ suốt đêm qua chàng khó chợp mắt vì nghĩ và thương vợ phải chịu đựng trong cảnh phòng không cô quạnh, cho nên mấy câu cuối bài thơ trên đầy ắp nỗi niềm riêng với vợ. Không chỉ có thế, Lưu Hiểu Ba trong một khoảnh khắc bất chợt nào đó đã không dấu được nỗi bất bình cho vợ, nên trong bài “Tham Lam Của Người Tù,” ông viết:

“yêu dấu

vợ anh

trên cõi trần ai

sa đọa như thế này

tại sao em

chọn một mình anh để phải chịu đựng”

Chàng họ Lưu còn kể lể tỉ mỉ những thiệt thòi mà vợ ông phải chịu trong bài thơ “Tham Lam Của Người Tù.”

“một người tù

chen lấn vào trong chuỗi đời em

rất tàn nhẫn và đầy tham lam

sẽ không để em

mua một bó hoa cho chính mình

một miếng sô cô la, một bộ đồ đẹp

hắn không cho em

thời gian, không một phút nào

hắn cho em”

Nhưng phải nói rằng nhờ tình yêu tràn đầy và chung thủy của vợ mà Lưu Hiểu Ba có thể sống tươi tắn trong chốn lao tù cô đơn, khổ lụy. Chính Lưu Hiểu Ba cũng thổ lộ điều này trong tiểu luận “Tôi Không Có Kẻ Thù: Tuyên Ngôn Cuối Cùng Của Tôi.”

“Tình yêu của em là ánh mặt trời lên khỏi bức tường cao và rọi chiếu xuyên qua những song sắt cửa sổ nhà tù của anh, xúc chạm trên từng mảnh da, làm ấm áp từng tế bào thân xác anh, cho phép anh luôn luôn giữ được bình an, cởi mở, và tươi tắn trong tâm hồn, và làm đầy mỗi phút giây trong đời sống tù của anh với ý nghĩa.”

Đọc những bài thơ của Lưu Hiểu Ba làm cho vợ, chúng ta thấy trong tình yêu của ông bàng bạc hương vị tình người. Ông không nỡ thấy một người đàn bà vì chồng mà hy sinh quá lớn, cả đến hạnh phúc một đời, cũng như ông không cam tâm thấy dân tộc Trung Quốc phải oằn vai gánh chịu đau thương mất mát dưới sự cai trị độc tài của Đảng Cộng Sản. Nhưng, Lưu Hiểu Ba vì tình người nên không muốn khuấy động một cuộc đấu tranh bạo động để thù hận và máu lửa thiêu chết con người như ông đã viết trong “Tuyên Ngôn Cuối Cùng Của Tôi.”

“Thù hận có thể làm trí thức và lương tri con người chết dần chết mòn. Tâm lý hận thù sẽ đầu độc tinh thần của quốc gia, kích động những tranh đấu giết người tàn bạo, hủy diệt lòng khoan dung và nhân từ của xã hội, và cản trở tiến trình hướng tới tự do và dân chủ của đất nước.”

Không ôm lòng thù hận đối với bất cứ người nào hay với chế độ đã kết án, bỏ tù ông chỉ vì dám lên tiếng đòi tự do và dân chủ cho người dân, Lưu Hiểu Ba mới có được tấm lòng khoan dung, cái nhìn ngay thẳng và sáng suốt, không những chỉ rõ cái sai mà còn can đãm công nhận điều hay lẽ phải của người khác, của chế độ, của xã hội. Xin nêu ra trường hợp của cai tù Liu Zheng trong bài viết “Tuyên Ngôn Cuối Cùng Của Tôi,” để thấy rõ điều này.

“Tôi tiếp xúc gần gũi với cán bộ cai tù Liu Zheng, người có trách nhiệm trông coi xà lim của tôi, và sự tôn trọng và chăm sóc tù của ông có thể thấy được trong mỗi việc làm của ông, thấm trong mỗi lời nói và hành động của ông, và làm cho người tù có cảm giác ấm áp.”

Chấp nhận mình là nạn nhân của chế độ thẩm tra, tù tội trái phép nhưng không oán thù, Lưu Hiểu Ba chịu đem thân làm bài học thí nghiệm của sự hà khắc bất công để cảnh tỉnh nhà cầm quyền Bắc Kinh. Đó chính là tình người vị tha cao quý của Lưu Hiểu Ba mà không phải ai cũng làm được. Trong những lời cuối của “Tuyên Ngôn Cuối Cùng Của Tôi,” Lưu Hiểu Ba viết:

“Tôi hy vọng tôi sẽ là nạn nhân cuối cùng của sự thẩm tra không chừng mức của Trung Quốc và từ nay về sau sẽ không còn ai bị buộc tội vì phát biểu.”

Quả thật, Lưu Hiểu Ba xứng đáng được trao và nhận giải thưởng cao quý Nobel Hòa Bình 2010.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 557)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 773)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1921)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1268)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1626)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1215)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1791)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3370)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4600)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4182)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S