Báo Cáo Kết Quả Đại hội lần thứ 11 của Hội Đồng Tăng Già Phật giáo Thế Giới

6/1/202520:42(View: 24832)
Báo Cáo Kết Quả Đại hội lần thứ 11 của Hội Đồng Tăng Già Phật giáo Thế Giới

hoa thuong hue hung-tt nguyen tang

Báo Cáo Kết Quả

Đại hội lần thứ 11 của

Hội Đồng Tăng Già Phật giáo Thế Giới

 

 

Đại hội lần thứ 11 của Hội Đồng Tăng Già Phật giáo Thế Giới được tổ chức tại Auckland, New Zealand từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 3 năm 2024, được tổ chức bởi Tu viện Quán Âm và đồng tổ chức bởi Chùa Từ Minh, Chùa Phổ Hiền và Chùa Pháp Tựu. Về tham dự Đại Hội kỳ 11 này có 497 đại biểu từ 28 quốc gia (bao gồm 239 thành viên chính thức, 115 quan sát viên xuất gia và 143 quan sát viên tại gia). Với chủ đề “Trở về thiên nhiên để cùng tồn tại hài hòa”, đại hội nhắm đến việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo và bảo tồn môi trường, đồng thời kêu gọi quý Tăng Ni khắp nơi trên thế giới cùng chung tay giải quyết các vấn nạn môi sinh toàn cầu như vấn đề biến đổi khí hậu và thiệt hại về môi trường sinh thái, đồng thời góp phần xây dựng một mái nhà chung, nơi con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại hài hòa.

 

Thứ nhất, tổng quan về hội nghị

Lễ khai mạc Đại Hội được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 tại Tu viện Quán Âm, Auckland với Diễn văn khai mạc của Ban Tổ Chức, bài phát biểu của Hòa Thượng Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký của Hội đồng Tăng già Phật giáo Thế giới và đại diện từ Đại sứ Quán Thái Lan. Trong lễ khai mạc còn có nghi thức tụng kinh cầu nguyện từ ba truyền thống Phật giáo (Nam Tông, Bắc Tông và Mật Tông) cho nền hòa bình thế giới và hạnh phúc của tất cả chúng sinh.

Trong đại hội, các bài phát biểu quan trọng, thảo luận chuyên đề, tham quan học hỏi và các hoạt động khác đã được tổ chức.

Trong các phiên hội thảo quan trọng, các học giả Phật giáo và đại diện các phái đoàn từ khắp nơi trên thế giới, đã có những bài phát biểu xuất sắc, trình bày chi tiết về tầm quan trọng về việc bảo tồn môi trường từ quan điểm Phật giáo và trí tuệ, cũng như sự đóng góp của Phật giáo trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng về môi trường.

Trong các phiên hội thảo chuyên đề, các đại biểu đã thảo luận chuyên sâu về chủ đề của đại hội, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn và đưa ra những đề xuất và giải pháp.

Trong ngày đi tham quan, quý đại biểu đã đến thăm các tự viện Phật giáo địa phương và các cơ sở bảo tồn môi trường để tìm hiểu về thực địa và kinh nghiệm của các tự viện Phật giáo này trong việc bảo vệ môi trường.

 

Thứ hai, thành quả của đại hội

1. Đại hội đã thông qua việc tu chính Hiến Chương của Hội đồng Tăng Già Phật giáo Thế giới để đáp ứng tốt hơn cho sự phát triển và thay đổi của thời đại.

2. Tất cả đại biểu tham dự đại hội đã đồng thuận bầu ra Ban Chấp Hành nhiệm kỳ mới do Trưởng Lão Hòa Thượng Huệ Hùng (Hui Hiong) làm chủ tịch.

3. Đại hội cũng đã công bố Tuyên Ngôn New Zealand. Tuyên Ngôn nhấn mạnh lý tưởng Phật giáo về sự chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên, đồng thời kêu gọi Tăng đoàn Phật giáo trên thế giới cùng nhau hợp tác để giải quyết các cuộc khủng hoảng môi sinh.

Thông qua đại hội này, đã nâng cao nhận thức của Tăng đoàn Phật giáo trên thế giới về việc bảo vệ môi trường, củng cố tinh thần trách nhiệm và sứ mệnh của Tăng đoàn Phật giáo trong việc tham gia bảo tồn môi trường, thúc đẩy trao đổi, hợp tác giữa các Tăng đoàn Phật giáo trên thế giới. Việc bảo vệ môi trường, đặt nền tảng trên các hoạt động ứng phó trước các  cuộc khủng hoảng môi sinh, đồng thời cùng đưa ra các đề xuất nhằm hướng dẫn tăng đoàn Phật giáo tham gia và lãnh đạo các hoạt động bảo vệ môi trường.

 

Thứ ba, quan điểm của đại hội

Sau Đại Hội này, Hội Đồng Tăng Già Phật giáo Thế giới sẽ tiếp tục thúc đẩy sự tham gia của Tăng đoàn Phật giáo vào việc bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng một mái nhà tốt đẹp hơn, nơi con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa hợp.

Chúng tôi cũng sẽ thực hiện như sau:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho tất cả tín đồ Phật giáo, đồng thời tích cực vận động và tham gia vào việc sống chung hài hòa giữa con người và thiên nhiên, nhằm góp phần xây dựng vận mạng chung của nhân loại.

2. Tăng cường trao đổi và hợp tác, chia sẻ thành quả nghiên cứu về Phật giáo và sự chung sống hài hòa, phát triển các hình thức hoạt động khác nhau và tích cực tham gia, nâng cao nhận thức và hiểu biết về việc thúc đẩy việc chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

3. Tận dụng ảnh hưởng của Phật giáo để tăng cường hợp tác với các chính phủ, tổ chức quốc tế và mọi thành phần trong xã hội, đồng thời thúc đẩy các chính phủ và cộng đồng quốc tế thực hiện các biện pháp hiệu quả để cùng nhau giải quyết các cuộc khủng hoảng môi trường và những thách thức toàn cầu.

 

Thứ tư, Kết luận

“Trở về với thiên nhiên để cùng tồn tại hài hòa” là chủ đề chung của toàn nhân loại và “xây dựng vận mạng chung cho nhân loại” là trách nhiệm chung của toàn thể nhân loại. Là một thành viên của nhân loại, chúng tôi tin rằng thông qua sự vận động và hướng dẫn của Tăng đoàn Phật giáo trên khắp thế giới, chúng tôi sẽ có thể tạo ra một Tịnh độ trần gian phù hợp để con người chung sống, làm việc trong hòa bình và hạnh phúc.

 

Anh-Hoa ngữ: Dr.Chen-Huang Cheng
Việt dịch: Thích Nguyên Tạng



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
2/6/2022(View: 34349)
Bồ Tát Quán Tự Tại khi hành giải thoát trí tuệ sâu mầu, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, độ tất cả khổ ách. Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không. Không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Này Xá Lợi Tử! Tướng không của các pháp ấy không sinh, không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt. Vì vậy, trong không: Không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có mắt cho đến không có thức; không có vô minh, cũng không có hết vô minh; cho đến không có già, không có chết; cũng không có hết già chết; không có khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế; không có trí, cũng không có chứng đắc.
2/5/2022(View: 15537)
CHÁNH PHÁP Số 108, tháng 11.2020 NỘI DUNG SỐ NÀY:  THƯ TÒA SOẠN, trang 2  TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 4  KÍNH MỪNG TUỔI HẠ (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 8  BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9
2/5/2022(View: 14057)
CHÁNH PHÁP Số 121, tháng 12.2021 Hình bìa của PhotoMix (Pixabay.com) NỘI DUNG SỐ NÀY: THƯ TÒA SOẠN, trang 2 TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 4 BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 7 Ý THU (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 9 ÁNH SÁNG NHƯ LAI (Nguyễn Thế Đăng), trang 10
2/5/2022(View: 13872)
CHÁNH PHÁP Số 123, tháng 02.2022 Hình bìa của Oldiefan (Pixabay.com) NỘI DUNG SỐ NÀY: THƯ TÒA SOẠN, trang 2 TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 XUÂN NHÂM DẦN 2022 (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 7 THÔNG BẠCH TẾT NHÂM DẦN 2022 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 8 THƯ CHÚC XUÂN NHÂM DẦN 2022 (Hội Đồng Điều Hành), trang 9
2/5/2022(View: 4575)
Cho tới nay có ít nhất mười nhà dịch giả (thuật) bộ Qui Sơn Cảnh Sách sang Việt ngữ như trong sách Phật Tổ Tam Kinh (1950; của Vô Danh Thị), Hòa Thượng Thích Hành Trụ (1972), Tuệ Nhuận (1973); Chư Thượng Tọa, Đại Đức dạy chúng, tại các trường Phật học Báo Quốc, Linh Ứng (Non Nước), Nguyên Thiều (Bình Định), Ấn Quang (Sàigon), Lưỡng Xuyên (Trà Vinh), Phật Ân (Mỹ Tho), Huệ Nghiêm (Gia Định) v.v... đều giảng dạy tăng sinh bộ sách quý này. Tại sao chúng tôi vẫn tiếp tục dịch luận bản văn trên sang tiếng Việt làm gì? Vẫn biết có nhiều vị uyên thâm Phật học đã dịch văn Cảnh Sách, song văn phong mỗi thời một thay đổi; hoàn cảnh Giáo Hội - Tăng Đoàn – mỗi giai đoạn không giống nhau. Từ khi có số Phật Tử Việt tỵ nạn đông đảo tại hải ngoại đến nay gần hai mươi năm, tình trạng Phật giáo có phức tạp, đổi thay. Chưa có vị nào dịch luận văn “Cảnh Sách” cho thích hợp trào lưu hiện tại, có thể nói là thời kỳ vô cùng giao động trong giới nhà tu Phật và Phật Tử nói chung, nếu nhìn theo nhiều góc c
2/3/2022(View: 10604)
Được biết A Di Đà Land được Đạo Hữu Tony Thạch tạo mãi vào ngày 01 tháng 06 năm 2015, nơi đây vốn là một khu đất rừng bạch đàn (Eucalyptus) với diện tích 2243.44 Acres (907.887957 hectares, trên khoảng 9 cây số vuông). Khu đất rộng lớn này nằm sâu bên trong ngôi làng Curraweela (gần thị trấn Taralga) thuộc miền nam tiểu bang New South Wales (gần thị trấn Goulburn) cách trung tâm thành phố Sydney khoảng 250 cây số (2 tiếng 30 phút lái xe). Đạo hữu Tony Thạch tạo mãi đặt tên cho khu đất là A Di Da Land, với ước nguyện trong tương lai sẽ biến nơi đây thành một Thế Giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà để giúp cho tứ chúng đồng tu, đồng giải thoát khỏi biển khổ sinh tử luân hồi.
2/2/2022(View: 122783)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
1/5/2022(View: 14486)
CHÁNH PHÁP Số 122, tháng 01.2022 Hình bìa của Hồ Bích Hợp NỘI DUNG SỐ NÀY: THƯ TÒA SOẠN, trang 2 TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 XA XỨ NHỚ LẠI NGÀY CŨ (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 6 Ý NGHĨA PHẬT PHÁP TĂNG TAM BẢO (HT. Thích Thắng Hoan), trang 7
12/30/2021(View: 13223)
Bởi thế, đặc san Phật Việt số 2 kỳ này xoay quanh chủ đề “công tác hoằng pháp và phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển.” Để góp phần vào công tác hoằng dương chánh pháp trước hoàn cảnh mới của nhân loại và Phật Giáo Việt Nam, đặc biệt nhắm đến việc chuẩn bị hành trang Phật Pháp cho thế hệ Tăng, Ni và Phật tử trẻ tuổi, chư tôn đức Tăng, Ni và Cư Sĩ tại hải ngoại đã thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp vào đầu tháng 5 năm 2021 dưới sự tán trợ của Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Cơ cấu tổ chức của Hội Đồng Hoằng Pháp gồm chư tôn Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan và Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn Chứng Minh; Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ làm Cố Vấn Chỉ Đạo; Hòa Thượng Thích Như Điển làm Chánh Thư Ký, Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu và Hòa Thượng Thích Bổn Đạt làm Phó Thư Ký và chư tôn đức Tăng, Ni thành viên. Ngoài ra Hội Đồng Hoằng Pháp còn có 4 Ban, gồm Ban Phiên Dịch và Trước Tác, Ban Truyền Bá, Ban Báo Chí và Xuất Bản, và Ban Bảo Trợ.
12/10/2021(View: 15070)
Bản dịch này cũng đã đăng tải trong các số báo đặc san Pháp Bảo, từ số 2, tháng 5 năm 1982 và còn tiếp tục đăng tải cho đến nay. Loạt bài đăng trong báo sẽ được chấm dứt trong vài kỳ báo nữa, vì các phần sau tuy cần thiết đối với người muốn nghiên cứu, nhưng lại trở nên khô khan với người ít quan tâm tới sử liệu Phật Giáo. Đó là lý do quý vị chỉ tìm thấy bản dịch được đầy đủ chỉ có trong sách này. Trong khi dịch tác phẩm, cũng như trong khoảng thời gian còn tòng học tại Nhật Bản, chúng tôi tự nghĩ: không hiểu sao Phật giáo đã du nhập vảo Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, thứ 3 mà mãi cho tới nay vẫn chưa có được những cuốn sách ghi đầy đủ các chi tiết như bộ “Các tông phái Phật Giáo Nhật Bản” mà quý vị đang có trong tay. Điều mong mỏi của chúng tôi là Phật Giáo Việt Nam trong tương lai cố sao tránh bớt vấp phải những thiếu sót tư liệu như trong quá khứ dài hơn 1500 năm lịch sử truyền thừa! Để có thể thực hiện được điều này, cần đòi hỏi giới Tăng Già phải đi tiên phong trong việc trước t