Cuộc đời tôn giả Mục Kiền Liên

13/01/201216:10(Xem: 14207)
Cuộc đời tôn giả Mục Kiền Liên

Cuộc đời tôn giả Mục Kiền Liên

Tác giả: Hellmuth Hecker- Dịch giả: Nguyễn Điều

MỤC LỤC

Lời nói đầu

1- Thời niên thiếu

2- Du phương tầm đạo

3- Tìm ra chơn lý.

4- Tinh tấn theo lời Phật dạy

5- Những bậc Thanh-văn xuất sắc

6- Những đóng góp của hai vị Đại đệ tử

7- Thần thông của ngài Mahà Moggallàna

8- Tiền kiếp của ngài Mahà Moggallàna

9- Những ngày cuối cùng của Mahà Moggallàna

10-Kết thúc cuộc đời

Phật ngôn

Lời nói đầu

Từ lâu, tôi hằng tâm nguyện được dịp phiên dịch hay biên soạn lịch sử của những vị đại đệ tử của Đức Phật, nhất là các ngài Xá-lợi-phất (Sàriputta), Mục-kiền-liên (Mahà Moggallàna), A-nan (Ananda) Ca-diếp (Kassapa), Ưu-bà-li (Upàli) v.v... Nhưng rất tiếc tìm được tài liệu đầy đủ để đúc kết cuộc đời của các vị Thánh Tăng ấy không phải là chuyện dễ.

Duyên may, khi còn ở trong nước, tôi đã dịch được quyển “Cuộc đời đức Xá-lợi-phất” mà soạn giả là ngài Nyàna Ponika. Và bây giờ ở hải ngoại tôi lại còn duyên lành nhận được cuốn Mahà Moggallàna (Đại Mục-kiền-liên) của Hellmuth Hecker do bà Trần Văn Bạch mang tặng.

Tôi mạo muội phiên dịch cuốn sách này ra Việt ngữ để cống hiến chư Phật tử bốn phương nhất là những ai muốn tìm hiểu cuộc đời của các vị đại đệ tử Phật. Khi diễn giải từ một thứ tiếng này ra một thứ tiếng khác, đặc biệt là trong lãnh vực tôn giáo, tôi tự cảm thấy trình độ học Phật còn yếu kém, do đó tránh sao khỏi những sơ sót. Ngưỡng mong chư vị hiền giả bổ túc cho, người dịch xin chơn thành cảm tạ!

Dịch giả cũng xin chia đều phần phước thanh cao này đến tất cả quý thân hữu, đạo hữu, những người đã khuyến khích, cung cấp tài liệu, tiếp tay đánh máy và ủng hộ ấn tống, xin cho quý vị ấy Bồ-đề tâm kiên cố và chóng đạt được đạo quả giải thoát.

Ngoài ra dịch giả còn xin hiến dâng một phần phước phiên dịch này đến tất cả chúng sanh, nhất là song thân và Thầy Tổ của dịch giả đang ở một cảnh giới nào đó.

Nguyện cho tất cả nhân loại đừng oan trái lẫn nhau và mỗi ngày mỗi giảm thiểu cái khổ!

Paris tháng 3/1988

Dịch giả

“Namo Tassa Bhagavato Arahato

Samma(sambuddhassa”.

“Namo Tassa Bhagavato Arahato

Samma(sambuddhassa”.

“Namo Tassa Bhagavato Arahato

Samma(sambuddhassa”.

Chúng con, toàn thể những Phật tử thành kính:

– Đảnh lễ Phật Bảo, Ngài là bậc Toàn tri Diệu giác, vô lượng từ bi, đã tìm ra con đường giải thoát.

– Đảnh lễ Pháp Bảo, là những lời vàng ngọc, có hiệu năng cứu độ chúng sanh.

– Đảnh lễ Tăng Bảo, những bậc gương mẫu, sống đời sống thanh tịnh trong hàng tứ chúng.

“Thành kính đảnh lễ đức Mục-kiền-liên (Mahà Moggallàna), một đại Sa-môn, một đại đệ tử Phật, đã sống đời sống Phạm hạnh, có khả năng chỉ trong nháy mắt, thấy rõ muôn vạn chiều vũ trụ, là bậc Thượng thừa của các loại Thần thông, có thể nhìn xuyên qua dòng thời gian biết hết từ vòng sanh diệt trong các cõi trời”.

(Theràgàthà 1181: Tôn Túc Kệ Ngôn, câu 1181)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/2026(Xem: 595)
Trong những ngày của tháng 2 âm lịch, người theo Phật giáo Đại thừa sẽ có 4 ngày quan trọng gọi là sự kiện tôn giáo cần nhớ đó là: = mùng tám tháng 2 - Ngày Thái Tử Sĩ Đạt Ta xuất gia ,- Ngày rằm tháng 2 , ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn,- ngày 19 tháng 2 , Đức Bồ Tát Quán Âm đản sinh ,- ngày 21 tháng 2 - vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát đản sinh. Vẫn biết nghi lễ là phương tiện để nhắc nhở mình về những phẩm hạnh của các Ngài, nhưng trong một bài giảng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhắn nhủ trong phà kết rằng : Cốt lõi của Đạo Phật không nằm ở hình thức lễ nghi hay lời tụng suông mà chính là phương pháp chuyển hóa tâm.
04/04/2026(Xem: 546)
Đây có thể là một bản văn sám hối mà người viết thấy mình đã lạc vào mê cung của một sự kiêu mạn vi tế và đã sưu tầm nhiều tài liệu kể cả tham vấn AI, và sau cùng tìm được lời đáp cho chính mình khi đọc Ba Bước Tỉnh Thức của Osho, Dù trước đây, người viết thường được các bậc minh sư thườnh nhắc nhở rằng: “Có một “cái tôi” rất đặc biệt — nó không khoe khoang tiền bạc, không tranh hơn thua, không ồn ào… nhưng nó lại đứng rất khẽ trong bóng tối của tâm, thì thầm: “Mình đã hiểu rồi… mình khác rồi…” Nó thích sự im lặng — nhưng là để nghe chính mình trở nên “sâu sắc”. Nó không phán xét — nhưng lại âm thầm thấy mình “cao hơn người còn phán xét”. Nó nói về buông bỏ — nhưng lại giữ rất chặt hình ảnh “người đã buông”. Các bậc thầy đã nhấn mạnh và chỉ ra “Cái ngã này không cần được công nhận công khai nhưng nó chỉ cần một cảm giác rất nhẹ: “mình đang đúng, đang tỉnh, đang đi trước.”
08/11/2025(Xem: 2857)
Dường như đều đặn gần 10 năm nay, từ khi học Đạo và nghe nhiều pháp thoại trong các bộ kinh Lăng Nghiêm và Diệu Pháp Liên Hoa và thường tụng niệm chú Đại Bi cũng như các câu chú đại linh mật thông dụng nhứt và nhắn gọn nhứt của Quán Thế Âm theo Mật Tông Tây Tạng là OM MANI PADME HÙM! (Án Ma Ni Bát Di Hồng!) của Phật Bà Tàrà, ứng Thân của Quán Thế Âm: (OM TÀRE TUTTÀRE TURE SVÀHÀ!) con thường nhủ rằng “trong tâm lý học sâu, con người dù trí tuệ đến đâu vẫn có khoảng trống của khổ đau và bất an. Quán Âm là biểu tượng của sự lắng nghe tuyệt đối, của năng lượng dịu lành giúp tâm người được an định.
27/09/2025(Xem: 1980)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý, nhắc nhở nhưng vẫn còn ngơ ngác, lặng thinh, thiếu hẳn lập trường. Chỉ có một vị đại diện muốn được lắng nghe. Thế tôn liền nói vắn tắt như sau: “Này các Tỳ kheo, những hạng chỉ nói lời hư vọng, không hiển thị sự chân thật, thiếu sự phân biệt, không rõ được hành vi, sự lưu bố và tuần tự thuyết pháp; khi muốn đoạn trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác thì chẳng làm được, lúc bị cật vấn thì trở nên đuối lý. Thế tôn gọi hạng này không xứng lập trong hàng ngũ giáo pháp của ta, đó là chúng phi pháp.” Nói xong, Thế tôn bèn lui vào am thất, nghỉ ngơi.
23/09/2025(Xem: 2103)
Có bốn hạnh tướng đẹp dành cho các sơ học Bồ tát. Đó là hạnh “Tự Chánh”, hạnh “Chánh Tha”, hạnh “Tùy Vấn” và hạch hỏi các “Sự Duyên” (Phẩm tứ tướng Niết Bàn) …… Có Tỳ kheo bảo, thà ôm đóng lửa mà chết, chứ không dám đứng trước Như Lai mà nói 12 bộ kinh. Chết như vậy thì tâm thể vẹn nguyên, tuyệt không để ma tâm quấy nhiễu, chỉ sinh oán kết, cột thêm dây.
21/09/2025(Xem: 2175)
Khi Phật giáo truyền đến phương Bắc, Trung Hoa là điểm quan trọng và chủ yếu của nhánh này. Sự phát triển của Phật giáo làm ảnh hưởng đến sự độc tôn của Nho – Lão, vì thế xảy ra những mâu thuẫn và xung đột không thể tránh được. Các pháp sư phải linh hoạt quyền biến phương tiện để hoằng hóa. Măc khác tín ngưỡng địa phương, văn hóa, nghệ thuật bản địa lại tác động đến Phật giáo. Các pháp sư phải linh hoạt chấp nhận sự giao thoa và cũng lợi dụng các yếu tố đó để dẫn dụ. Dần dà Phật giáo Bắc truyền mang màu sắc Trung Hoa rất đặc thù và khác biệt với dòng Nam truyền. Hai hình tượng rất đặc biệt trong Phật giáo Bắc truyền ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Di Lặc. Từ đây truyền rộng sang Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn…Mấy ngàn năm nay, hình tượng hai ngài phổ biến sâu rộng trong quần chúng, in sâu vào tâm thức mọi người…
22/10/2024(Xem: 4045)
Xuất xứ. Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm là tuyển tập 500 Danh Hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Mỗi danh hiệu tán dương một bản nguyện, hạnh tu, công đức, pháp môn, ứng thân, phương tiện, lời dạy, cảm ứng, xưng tán, hoặc oai lực của Bồ Tát, viết thành một câu khá dài. Hơn một nửa danh hiệu trích dẫn từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, còn lại dẫn từ nhiều Kinh khác. Do dẫn nhiều bản Kinh theo thứ tự trước sau nên có những câu tương tự, trong đó 2 câu “Thiên nhãn Chiếu kiến” và “Thiên thủ Hộ trì” lập lại 2 lần (câu 76-77).
20/10/2024(Xem: 3418)
Phải chăng trong thời đại công nghệ và tri thức phát triển? Niềm tin mạnh mẽ vào Bồ tát Quán Thế Âm Vẫn đặc biệt giữ được một giá trị tinh thần Nhưng đòi hỏi thêm hơn một cái nhìn thực tế và sâu sắc! Hãy luôn kiên nhẫn và lòng từ bi, dù cuộc sống có phức tạp hay thách thức !
02/09/2024(Xem: 10288)
Mời người về đây tu viện Quảng Đức Xứ Úc hiền hòa Thầy đã dựng xây Mái ấm tâm linh, chở che người con xa xứ Bao bàn tay Phật tử cùng chung xây dựng Quảng Đức, trái tim người bất diệt!
02/09/2024(Xem: 3147)
Có một câu danh ngôn nổi tiếng của John Milton trong tác phẩm *Paradise Lost* (Thiên Đường Đã Mất) nói về khái niệm thiên đường và địa ngục trong tâm trí con người: “The mind is its own place, and in itself can make a heaven of hell, a hell of heaven."* Tạm dịch:”Tâm trí là nơi của chính nó, và tự nó có thể biến thiên đường thành địa ngục, địa ngục thành thiên đường."* Câu này nhấn mạnh rằng chính tâm trí con người quyết định việc chúng ta sống trong hạnh phúc hay khổ đau, thiên đường hay địa ngục.