Kịch bi: Lá Sầu...Chung

13/08/201821:22(Xem: 6151)
Kịch bi: Lá Sầu...Chung
hoa hong
Kịch bi: Lá Sầu...Chung
Trần Thị Nhật Hưng
 

Hai màn:
Diễn viên: Hai mẹ con
 

Lời giới thiệu:

 

Kính thưa Quí vị.

   Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức.

Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.

 

*Màn 1: Trong vườn chùa

(Nhạc đệm nho nhỏ bài “Lòng mẹ”)

 

Con (lửng thửng trên sân chùa): Hôm nay là Vu Lan.Trên thế gian này bao chùa đang tưng bừng làm lễ báo hiếu mẹ, vinh danh mẹ, tưởng nhớ mẹ; là cơ hội đền đáp ơn sinh thành dưỡng dục mẹ hiện tiền và cả ngay khi mẹ đã khuất.

  Cửa chùa mở rộng chào đón mọi người làm lễ cài hoa. Hoa màu hồng sẽ được cài lên áo người may mắn còn mẹ. Hoa trắng dành cho kẻ mẹ đã khuất núi.

  Riêng tôi, tôi cài hoa gì đây, có hân hạnh được cài hoa không nữa dù là hoa trắng? Đó là câu hỏi mà từ nhiều năm rồi, kể từ khi tôi mới lọt lòng cho đến bây giờ, tôi luôn thắc mắc.    

   Cũng như bao người, lẽ đương nhiên, tôi cũng được sanh ra từ một người mẹ, nhưng mẹ tôi đã nhẫn tâm bỏ rơi tôi trước cổng chùa khi tôi mới lọt lòng còn bế ngữa. Số phận tôi như vậy đó.

  Tôi mất mẹ, không có mẹ giữa khi mẹ tôi đang còn sống. Mẹ từ bỏ tôi, chứ tôi không bỏ mẹ.

   Hôm nay, sau mấy chục năm trời, mẹ mới tìm đến tôi, chịu nhìn tôi, khi tôi đã quen rồi cuộc sống của một đứa trẻ mồ côi.

   Bà tìm tôi để làm gì chứ?!

Mẹ (xuất hiện): Hồng, con. Mẹ tìm con để tỏ lòng sám hối và muốn nói với con hai chữ “xin lỗi”! Cầu mong con... tha thứ cho mẹ!

Con: Chào...bà!

Mẹ: Mẹ chào con!

Con: Bà à, vừa rồi tôi nghe bà nói đến hai chữ “xin lỗi và tha thứ”. Chỉ hai chữ…xin lỗi thôi sao. Chỉ hai chữ…tha thứ thôi sao, để tôi và bà nhìn nhau là mẹ con?!

Mẹ: Đúng vậy. Bao năm qua, mẹ ray rứt lắm con ơi. Con hãy…từ bi tha thứ cho mẹ.

Con: Từ bi?! Bà kêu gọi lòng từ bi nơi tôi à?! Tôi xin hỏi bà. Vậy thì mấy chục năm về trước sao bà không đánh thức lòng từ bi nơi bà để nuôi nấng tôi, một đứa bé còn đỏ hỏn mới lọt lòng rất cần tình thương nơi bà, cần vòng tay ấm áp của mẹ! Bà bỏ rơi tôi một cách tàn nhẫn như vậy trước cổng chùa, khi tôi đang khát sữa, tôi cất tiếng khóc gọi bà, gọi lòng từ bi nơi bà, mà bà có nghe đâu.

Mẹ: Con ơi. Con không hiểu được lòng mẹ lúc đó. Mẹ đứt từng khúc ruột, khi phải hành động như vậy, bởi vì…mẹ thương mẹ của mẹ tức bà ngoại của con đó và bao người trong gia đình để giữ ...danh dự cho gia tộc.

    Con biết không, lúc đó mẹ còn trẻ người non dạ, chịu áp lực của bao người, mẹ đành đoạn làm những điều mà lòng mẹ không muốn. Cha con đã tử trận khi mẹ đang mang thai con. Cuộc tình vụng trộm lỡ làng ấy, đã để lại trong mẹ, chính là con đó.

Con: Danh dự à?! Danh dự của bà và danh dự của gia tộc à.Tất cả mọi người đem sinh mạng bé nhỏ của một trẻ sơ sinh để đánh đổi danh dự của gia tộc. (hét) Ích kỷ như vậy sao? Tàn nhẫn như vậy sao?!

Mẹ: Bây giờ mẹ nói gì con cũng không hiểu được nỗi lòng mẹ. Con chỉ biết là...bao năm qua, mẹ sống âm thầm trong cắn rứt, trong đau khổ, khi nhìn thấy con sờ sờ trước mắt mà không dám nhìn con. Cho đến bây giờ, khi có cơ hội thuận tiện, ông bà ngoại đã qui tiên, chồng mới của mẹ cũng qua đời, mẹ mới được quyền tìm đến con với lòng sám hối vô vàn của mẹ.

Con: Bà cũng biết đau khổ sao? Nhưng nỗi đau khổ của bà có bằng nỗi đau khổ của tôi không?

   Khi tôi khát sữa, bà biết không, tôi đã phải mút tay để thay vú mẹ. Đêm đêm tôi khóc vì cần hơi ấm của mẹ. Lúc đó bà ở đâu? Bà đang trên giường êm nệm ấm với người chồng mới.

   Rồi khi tôi vừa lớn chập chững vô trường học, nhìn các bạn có mẹ, có cha đưa đón mỗi lúc tan trường, tôi cứ thắc mắc, mẹ tôi đâu, cha tôi đâu?!

   Chúng bạn thì vô tình đùa cợt trên nỗi đau của tôi, rằng tôi là đứa trẻ mồ côi ăn cơm thí của nhà chùa. Chúng cười trên sự bất hạnh của tôi. Chúng hà hiếp tôi, mà có ai binh vực tôi đâu? Lúc đó, bà biết tôi buồn lắm không, tôi đau lắm không. Tôi chỉ lặng lẽ đứng khóc, về nhà bỏ ăn, bỏ uống, được sư bà dỗ dành rằng, tôi cũng có mẹ, mẹ chính là sư bà đó.

   Bây giờ lớn lên tôi hiểu rõ tất cả và chỉ biết ngậm ngùi thương cho số phận của mình thôi.

Mẹ: Bây giờ con nói sao cũng được. Con cứ mắng mẹ đi, nguyền rủa mẹ đi để lòng con thanh thản, vơi đi bao uất ức bấy lâu. Nhưng sau đó, mẹ cầu xin con hãy tha thứ cho mẹ. Con có tha thứ cho mẹ, và nhìn mẹ, …mẹ mới an lòng ngậm cười nơi chín suối (húc hắc ho). Mẹ già rồi và đang vướng bịnh ung thư, con ạ !

Con: Thôi, bà đừng nói nữa. Bà hãy về đi. Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn bà, hồi đó còn có chút lương tri bỏ tôi nơi cửa chùa. Chứ không quá ác độc nhẫn tâm ném tôi vào sọt rác, ống cống hay gốc cây nào đó để cho kiến bu, ruồi đậu. Cám ơn bà, cám ơn bà nhiều lắm, để tôi còn có hình hài ngày hôm nay. Thôi, bà về đi,..bà về đi. Tôi không muốn thấy mặt bà! (nói xong, òa khóc, chạy vào trong).

Mẹ (vói theo): Con, con, con của mẹ...!

 

*Màn 2 : Tại nhà người mẹ

(Nhạc đệm nho nhỏ bài “Lòng mẹ”)

 

(Mẹ đang nằm trên giường bịnh húng hắng ho. Con chạy đến quì bên giường).

Con: Mẹ,… mẹ ơi,… con đến thăm mẹ nè. Mẹ tỉnh dậy đi, mẹ. Sư bà đã cho con hay mẹ đang hấp hối. Con đến với mẹ đây. Mẹ tỉnh dậy đi, mẹ. Con đây nè, mẹ. (lắc đầu): Mẹ tôi không dậy được nữa rồi. Mẹ…ơi!

   (Tỉ tê): Mẹ ơi, con hối hận lắm mẹ ơi. Là Phật tử mà con đã quên lời Phật dạy. Con cố chấp, thiếu lòng từ bi hỉ xả để mẹ con ta đau khổ triền miên như thế này.

   Mẹ ơi, nếu…lá sầu riêng được biểu tượng của hạnh kham nhẫn, nhịn nhục, thì lá sầu…chung xuất phát từ lòng oán hận, vị kỷ, nhỏ nhen của con, chỉ mang đau khổ cho nhau thôi.

  Nay con biết sám hối rồi mẹ, con tìm đến mẹ thì mẹ lại bỏ con đi.

Mẹ (húng hắng ho, chồm dậy): Con, Hồng đó hả con.

Con: Dạ,... con đây,… con đây.

Mẹ (thều thào): Hồng…ơi. Con, con của mẹ.

Con: Dạ, con đây, con đây.

Mẹ: Con ơi. Trong giờ phút này, trong cơn mê mệt này, mẹ được nghe tiếng con gọi  “mẹ”, là mẹ vui sướng lắm rồi. Coi như con đã tha thứ cho mẹ. Mẹ có nhắm mắt, cũng an lòng nơi chín suối.

Con: Mẹ, mẹ ơi. Mẹ đừng nói như vậy. Mẹ hãy tỉnh dậy đi mẹ, mẹ hãy sống đời với con. Con biết lỗi của mình rồi. Con ân hận lắm, mẹ ơi.

Mẹ: Con ngoan của mẹ. Mẹ rất tiếc, khi mẹ con ta tìm đến nhau thì sức mẹ đã không còn. Mẹ muốn bù đắp những chuỗi ngày còn lại cho con. Đền bù cho con tất cả. Nhưng không được nữa rồi. Mẹ mệt lắm, mẹ mệt lắm con ơi. Con,..con... ở…lại…mạnh …giỏi…(Nói xong, suôi tay nhắm mắt)

Con: Mẹ, mẹ ơi, sao mẹ lại bỏ con…! Mẹ ơi…!

Màn hạ

Trần Thị Nhật Hưng

Vu Lan 2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/04/2014(Xem: 6084)
Tôi chợt ngộ ra. Cái ông mà chuyện gì cũng biết, rành rẻ mọi sự đời, mà ông bạn mới quen tôi nói có tên là ông Google. Tôi biết ông, biết rành nữa là khác. Ông từng là ân nhân của tôi trong nhiều trường hợp, nhưng mà tôi cũng ớn ông ấy lắm.
24/04/2014(Xem: 5543)
Tập truyện của 8 tác giả: Cộng tác viên của Báo Viên Giác. Đều là những Phật tử có Pháp danh và nhiều chị xuất thân từ nhà giáo. Sách trình bày đẹp trên giấy hoàng kim. Kỷ thuật bởi Hoa lan-Thiện giới. Tranh bìa và phụ bản: Trần Thị Hương Cau. Trình bày bìa: Gia Khánh. Viết Lời Giới Thiệu Thầy Thích Như Điển, Phương Trượng chùa Viên Giác. Viết “Thay Lời Tựa” bởi Đạo hữu Phù Vân Chủ Bút Báo Viên Giác.
02/04/2014(Xem: 26223)
Kim Dung đã tìm đến Kinh Phật để mong lý giải nguyên nhân cậu con trai Tra Truyền Hiệp tự tìm đến cái chết khi chưa tròn 20 tuổi. Kim Dung, tên thật Tra Lương Dung, là nhà văn đương đại nổi tiếng Trung Quốc. Ông được đông đảo độc giả hâm mộ bởi hàng loạt tiểu thuyết võ hiệp đặc sắc như Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Lộc Đỉnh ký, Tiếu ngạo giang hồ… Kim Dung được mệnh danh là “Thái Sơn, Bắc Đẩu” trong giới tác giả viết tiểu thuyết võ hiệp.
29/03/2014(Xem: 25759)
Trời đất mênh mang sương khói, một thời thơ trẻ dại, bàng bạc nắng quái u buồn nơi quê nhà giữa hai đầu biển núi lung linh. Sinh năm 1952 ở Quán Rường, Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, một chốn miền “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” ấy, Nguyễn Lương Vỵ lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học. Từ thuở nhỏ vốn bẩm sinh có năng khiếu làm thơ, đặc biệt được ông nội ( nguyên là một nhà Nho, có thời kỳ làm chánh tổng ) trực tiếp truyền dạy các loại thơ tứ tuyệt, Đường luật, nên biết mần thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thuở còn chạy rông chơi bên mấy cổ tháp rêu phong Chiên Đàn, cạnh dòng sông Tam Kỳ và bãi biển Tam Thanh xanh biếc mộng.
24/03/2014(Xem: 36199)
Nói đến chùa Thiên Ấn không ai còn lạ về ngôi chùa này, một thắng tích được xem là “đệ nhất thắng cảnh„ cách trung tâm 3,5km (độ 10 phút xe hơi) nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc của thành phố Quảng Ngãi.
18/03/2014(Xem: 25162)
Trong văn học Trung Hoa, từ thời đại xa xưa, Chu Hy cho rằng “nhân chi sơ tính bản tĩnh”. Từ “bản tĩnh”, do cảm xúc của dục tính mà “tĩnh” chuyển sang “động”. Và một khi tâm đã động thì trí sẽ vận dụng đến suy tư, khi đã suy tư thì phải thốt lên bằng tiếng nói.
16/03/2014(Xem: 9495)
Văn Sinh là một cựu sinh viên Văn Khoa thiên về Triết Đông cho nên tính khí cũng có hơi bất thường. Bất thường ở đây không có nghĩa là “mát dây” mà ưa suy nghĩ về những gì con người không suy nghĩ hoặc những gì mà cả xã hội cho rằng “Ôi dào! Đời là thế, suy nghĩ làm gì cho mệt!”
16/03/2014(Xem: 5559)
Khi ta nở một nụ cười thì một đóa hoa đã “nở trên môi ta”. Khi ta ban phát tình thương tới mọi người thì ta “nở một đóa hoa lòng”. Khi ta tử tế với mọi người ta chúng ta đã trao tặng họ một “đóa hoa thân ái”. Khi ta cứu giúp mọi người thì trong tim ta đã nở “một đóa từ bi”.
09/03/2014(Xem: 7591)
Từ vô thỉ đến nay, giác tánh nơi tạng thức con người thường thanh tịnh trong sáng hoàn toàn, vốn không có sự cấu uế tạp nhiễm, cũng không có những huyễn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Trong giác tánh ấy, không có gì được gọi là sinh hay diệt, vì sanh hay diệt chỉ là giả danh. Vả lại, sanh là tướng huyễn sanh, diệt là tướng huyễn diệt
07/03/2014(Xem: 23576)
* “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả.