Duyên Xuân

05/01/201502:20(Xem: 4475)
Duyên Xuân

 hoa dao

     Chiều nay từ cơ quan về nhà, Lâm chở theo một cô gái: Cô Thắm. Ngọc, vợ chàng, không mấy ngạc nhiên vì Lâm đã trình bày với nàng từ hôm qua. Thắm 17 tuổi, cán bộ văn nghệ cơ quan Xây Dựng Nông Thôn mà Lâm là Chỉ Huy Trưởng.

     Ăn cơm xong đâu vào đó, theo kế hoạch, vợ chồng Lâm kéo về nhà ông bà Kính, thân sinh của Ngọc, chỉ cách đó 10 phút đi bộ. Ông bà Kính cũng không mấy ngạc nhiên về sự hiện diện của Thắm tối nay, vì ông bà cũng được Lâm thưa trước về vấn đề của Thắm.

     Bà Kính mời Thắm ngồi. Rồi với vẻ thân thiện cởi mở cố hữu, bà vui vẻ bảo Thắm:

     - Thời buổi này trai thiếu gái thừa, khó dễ người ta làm gì thế?

     Thắm tưng tửng, giương cặp mắt ngây ngô thật thà đáp lại:

     - Cũng một vừa hưa phửa thôi chớ!

     Mọi người cười xòa, không chỉ vì giọng nói đặc sệt xứ Quảng của Thắm mà chính còn cái lối làm phách không phải chỗ của Thắm khiến ai nấy không nhịn được cười.

     Thường thì bất cứ cô gái nào ở tuổi cặp kê, sắp yêu, sắp bước vào hôn nhân đều vẫn thế. Nếu không chàng nào ngó đến, chọc ghẹo, họ tiu nghỉu đến tội nghiệp. Nhưng ngược lại, ít nhiều các cô sẽ tự cao, tự đại, đôi khi phách lối bộc lộ một cách rõ ràng hay ngấm ngầm treo cao giá ngọc nếu có một hoặc nhiều chàng chiếu cố “Có duyên, làm cách làm cao. Hết duyên bí thối, bầu thiu, ai thèm“. Trường hợp Thắm không ngoại lệ. Có điều buồn cười ở chỗ, Thắm đã có thai với Thạch gần bốn tháng, bụng Thắm đã lum lúp, thế mà cô vẫn khó dễ Thạch tiến hành chuyện hôn nhân.

     Thạch cũng là cán bộ văn nghệ cùng cơ quan với Thắm. Những ngày tập dượt, hát chung, múa chung, đi lưu diễn chung và nhất là tá túc ngay cơ quan với Thắm đã là nhân duyên nảy sinh tình cảm giữa hai người.

     Từ khi Thắm có thai, Thạch vô cùng bối rối, lo lắng. Không phải anh không muốn cưới cô, hiềm nỗi anh nghèo quá. Đồng lương ba cọc ba đồng của một cán bộ dân vận chỉ đủ cho anh lây lất sống dựa trong cơ quan: Ăn trong cơ quan và ngủ tại cơ quan. Ngoài ra, anh còn nặng gánh một mẹ già. Bà cụ chỉ có mình anh nương náu và trông chờ nơi anh. Chiến tranh đã cướp mất của bà người chồng thân yêu, ruộng vườn nhà cửa. Bà trôi giạt, lánh nạn tại vùng an ninh vá víu tạm bợ trong căn chòi xiêu vẹo. Hơn một nửa phần lương vốn ít ỏi của anh, anh dành lo nuôi mẹ.

     Gia cảnh Thắm càng tệ hơn. Nàng mồ côi cha mẹ từ khi mới lọt lòng. Thuở bé dại, Thắm nương nhờ vào sự nuôi nấng của một người dì. Tiếc rằng dì cô cũng không khá giả mấy. Cho nên mới 16 tuổi, Thắm rời quê lên thị trấn kiếm ăn. Nhờ có làn hơi phong phú, hát tạm nghe được và một thân hình cân đối đẩy đà, nàng được tuyển vào ban văn nghệ Xây Dựng Nông Thôn.

     Những ngày cùng sống, cùng làm việc chung với Thạch, Thắm cũng có một gian phòng nhỏ tại cơ quan như Thạch, tình cảm giữa cô và Thạch nảy nở. Rồi với thời gian “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén“, cái thai trong bụng Thắm là kết quả mối tình vụng trộm của hai người.

      Trước hoàn cảnh của Thắm và Thạch như vậy, cuộc tình cả hai đi vào bế tắc, cho đến khi Lâm xuất hiện, mới nhậm chức Chỉ Huy Trưởng từ một tháng nay. Những lời dị nghị bàn tán trong cơ quan, cuối cùng rồi cũng đến tai Lâm. Không thể để tình trạng khó coi kéo dài, nhất là đối với một cơ quan tuyên truyền, Lâm đã gọi Thạch lên văn phòng chất vấn.

     - Thưa anh, em thật tình thương Thắm, muốn cưới cô ấy làm vợ, nhưng gia cảnh em nghèo quá, tiền đâu để bàn chuyện cưới xin?

     - Nếu như thế, anh sẽ đứng ra hợp thức hóa đám cưới của hai em trong phạm vi đơn giản nhất với những lễ nghi cần thiết. Ý em thế nào?

     - Thưa anh, được như vậy thì còn gì bằng. Trăm sự em nhờ anh và chân thành cám ơn anh.

     Thế là từ đó, Lâm đứng ra lo liệu. Chàng chủ hôn cùng một số cán bộ trong cơ quan đại diện họ nhà trai về tận quê Thắm để bàn chuyện cưới hỏi. Chàng cho phép Thắm, Thạch lãnh lương trước kỳ hạn để chuẩn bị ít nhất hai bộ áo cưới, và một tiệc trà thân mật hợp đồng lương của hai người. Ai ngờ mọi sự tưởng suông sẻ, tình cảnh vốn khó khăn, gia đình người dì Thắm làm cao gây thêm nhiều khó khăn khác. Họ đòi hỏi một tiệc rượu đãi đằng quan viên hai họ. Tiền cưới cheo: Hai đôi xuyến, một sợi dây chuyền, một cặp nhẫn, lắc đeo tay mà còn phải là vàng 24 ca-ra mới hợp lệ !

     Sự đòi hỏi này chỉ làm mệt trí thêm cho Lâm hơn là Thạch. Bữa tiệc rượu Lâm nghĩ, có thể trang trải được từ «quà» của khách tham dự. Nhưng nữ trang kiếm đâu ra nếu không phiền ông bà nhạc mà Lâm vừa làm rể hai tháng trước đó. Lâm đặt vấn đề hỏi mượn ông bà Kính và hứa sẽ hoàn trả vài ngày sau khi cô dâu bước chân về nhà chồng.

     Nể tình con rể, hưởng ứng việc làm của Lâm, thông cảm hoàn cảnh Thắm, ông bà Kính vui vẻ tiếp Thắm. Tiếng của Thắm lại cất lên:

     - Đốm cứ  thì phửa đeo dòng doàng chớ !

     Mọi người lại cười xòa, trong khi mặt Thắm cứ tỉnh khô. Ngọc tinh nghịch trêu cô:

     - Dòng doàng gồm những gì dẫy ?

     - Phửa hưa đôi xiến, dây chiền, nhẻnléc !    Thắm đáp. Rồi với nét mặt hồn nhiên tưng tửng cố hữu, Thắm thật thà giải thích:

     - Đốm cứ, lối xóm con đổ con mét vô nhìn, mình phửa lồm đoàng quoàng để nở mài nở mẹt chớ !

     Nhìn bụng Thắm lum lúp, hơi phình ra dưới lớp áo, Ngọc định trêu cô: «Đám cưới cứ đeo trống như Thắm là đặc biệt nhất, cần gì phải vòng vàng» nhưng nghĩ quá đáng, Ngọc lại thôi.

     Bà Kính từ buồng bước ra với một hộp nữ trang. Bà mở nắp lôi ra một sợi dây chuyền vàng có gắn một mặt ngọc xanh, một chiếc lắc đeo tay cũng có gắn năm mặt ngọc thạch xanh hình ô vuông, đôi hoa tai và một cặp nhẫn. Tất cả đều vàng 24 ca-ra chiếu sáng lấp lánh dưới ngọn đèn néon. Mọi người đổ mắt vào nhìn xăm xoi trầm trồ. Riêng Ngọc không mấy ngạc nhiên vì trước đó hai tháng, ngày đám cưới của nàng với Lâm, Ngọc đã được xem qua. Chính những món nữ trang này, bà Kính định tặng nàng trong ngày cưới, nhưng Ngọc lắc đầu không nhận.

     Nàng vốn không thích nữ trang, không quan tâm nhiều đến đồ trang sức. Trong hôn nhân, Ngọc chỉ cần trái tim chân thành, một tình yêu chân thật là đủ. Tuy nhiên, cần theo đúng phong tục lễ nghi, bất đắc dĩ nàng mới yêu cầu Lâm sắm cho nàng chiếc nhẫn vàng tây, nhẹ, đơn giản phù hợp với túi tiền của chàng, thế thôi. Và vì lẽ đó, nàng đã không có nữ trang cho Thắm mượn, để phải phiền đến bố mẹ mình.

     Bà Kính sau khi kiểm điểm xong, bà trao hộp nữ trang cho Ngọc. Trách nhiệm của nàng, với tư cách vợ Lâm, chủ hôn, đại diện họ nhà trai, tận tay Ngọc đeo cho Thắm trong ngày đón dâu, rồi sau đó có nhiệm vụ nhận về trao trả lại cho mẹ.

     Tất cả mọi người, nhất là Thắm, đều bằng lòng theo kế hoạch của Lâm. Ai nấy vui vẻ bàn chuyện. Hỉ hả về ngày cưới của Thắm. Ngọc còn cho Thắm mượn lúp đội đầu, hoa cầm tay, găng tay của nàng và nhiều thứ lặt vặt khác có thể trang điểm cho cô dâu giúp Thắm bớt phần chi phí.

     Và ngày cưới, không thể chần chờ lâu hơn, mọi người cùng Thắm, Thạch ấn định vào mồng bốn Tết năm đó.

*

     Một đoàn xe Jeep có tới 10 chiếc. Đi đầu là xe của vợ chồng Lâm, kế tới một chiếc Huê Kỳ trắng kết hoa rực rỡ chở Thạch ngồi phía sau. Tất cả những xe này Lâm đều hỏi mượn từ các cơ quan bạn.

     Đoàn xe đi bon bon nhắm hướng quê Thắm trực chỉ giữa tiếng pháo chuột đì đùng đây đó nổ vang.

     Mồng bốn Tết, ngày vui vẫn còn tưng bừng nơi tỉnh lẻ. Nét xuân vẫn hiện hữu trên sắc diện của mọi người, mọi nhà. Phố sá nhà cửa vẫn còn nguyên cách  trang hoàng với liễn đối, cây cảnh, vạn thọ, thược dược, cúc, mai vàng… Trẻ con người lớn quần áo vẫn tươm tất bảnh bao. Chưa ai nghĩ đến công việc, ngoài những xe hàng rong: mực nướng thơm phứt, cóc giằm, ổi, xoài ngâm, pháo chuột… phục vụ ngày Tết, nhằm móc tiền lì-xì của bọn con nít. Đó đây những trò chơi bầu cua cá cọp vẫn tụ bảy tụ năm. Tiếng reo hò lâu lâu vẫn xen trong tiếng pháo. Những lời chúc năm mới vẫn rôm rả trên miệng mọi người. Ngày xuân trong lòng như bất tận.

     Tết nông thôn càng đặc biệt hơn, càng rõ nét hơn. Dù ba ngày Tết đã trôi qua, mùa xuân vẫn thể hiện trong họ qua sắc màu sặc sỡ «xanh xanh, đỏ đỏ, cho em nhỏ nó mừng» từ quần áo đến món ăn, cách bài trí nhất nhất đều rực rỡ, và nhất là qua nét mặt vui tươi thảnh thơi, gác bỏ những lam lũ vất vả của ngày thường để thực sự tận hưởng những ngày vui đầu năm mới «tháng giêng là tháng ăn chơi» mà ! Cho nên họ chơi hết mình, dù giàu hay nghèo, họ vẫn cố gắng tạo cho gia đình, làng xóm một sắc thái «một ngày không như mọi ngày». Và trò chơi «bài chòi » thường được hưởng ứng nhiệt liệt nhất. Họ say mê đến độ ca dao phải thốt lên: «Rủ nhau đi đấu bài chòi. Để cho con khóc đến lòi rún ra», hoặc: «Gió Xuân phảng phất ngọn tre. Hai bên cô bác lắng nghe bài chòi ».

     Bài chòi là một trò chơi xuân, thú vui tao nhã, có tính cách dân gian, mục đích giải trí hơn sát phạt. Dù say mê đến đâu, chả ai chơi bài chòi để phải tan nhà nát cửa. Và ngược lại cũng chả ai giàu có nhờ chơi bài chòi. Qua bài chòi, cả làng có cơ hội tụ họp, vì bài chòi thường tổ chức ở khoảng sân rộng trong làng, người dân vui chơi thoải mái, cùng lúc vô tình trung tiếp thụ một cách tự nhiên, dễ dàng, văn chương bình dân nhưng ý nghĩa vô cùng phung phú thể hiện qua bài vè, bài hát, ca dao Việt Nam do anh hiệu thường là người miệng mồm dẻo quẹo, chẳng những thuộc nhiều ca dao, thơ, nhạc mà đôi khi còn ứng khẩu thành… ca dao mới để góp phần cho nền văn học dân gian nữa.

     Chẳng hạn để nói về con bài «nhứt trò» (có hình anh học trò), anh hiệu ngâm to, chậm rãi để chờ cho người tham dự dùng trí tưởng tượng ra đoán:

 

     Tay cầm quyển sách bìa vàng.

     Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu.

 

     Hoặc con bài “ba bụng” có hình một ông, hai bà:

 

     Một chàng hai thiếp khó phân

     Anh về nghĩ lại để cầm cân cho bằng.

     v.v… và v.v…

     Nếu ai nhận trước được ba con bài, người đó thắng cuộc.

 

     Ngoài bài chòi, còn nhiều nhóm lớn, nhỏ tụ họp đánh chén, tán gẫu, say sưa quên đời. Hoặc còn chơi nhiều bài bạc khác nhau nữa. Họ thật sự thảnh thơi.  Thật sự tận hưởng thú vui của ngày đầu năm. Chỉ riêng nhà người dì của Thắm, trong niềm hân hoan bận rộn thưởng xuân còn hớn hở lo tiếp đón nhà trai đến rước cô dâu.

     Đoàn xe bắt đầu quanh co quẹo vào ngõ hẻm. Đường đất sỏi khiến chiếc xe lắc lư. Không ai bảo ai, đoàn xe từ từ chậm lại, nhưng vẫn không tránh khỏi bụi đường tung bay dưới nắng xuân rực rỡ. Hàng cây bên đường thỉnh thoảng quẹt nhẹ vào xe. Ngọc đổi lại thế ngồi, tay vịn chặt vào thành ghế của Lâm phía trước. Hộp nữ trang phủ nhung đỏ viền ren trắng im lìm nằm bên cạnh. Ngọc đưa mắt liếc nhìn rồi tự nhiên cười một mình.

     Đoàn xe quanh co một lúc, cuối cùng nối đuôi dừng lại truớc nhà dì của Thắm. Một tràng pháo nổ chào đón họ nhà trai. Con nít từ đâu túa ra cùng người hiếu kỳ hai bên đường vây quanh đoàn người mới đến. Đợi tiếng pháo vừa dứt, họ nhà trai hàng một lần lượt đi trên xác pháo bước vào cổng nhà Thắm.

 

     Chiếc cổng dã chiến kết bằng lá dừa, cắt xén gọn gàng rất mỹ thuật hài hòa với màu sắc của hai chữ «Vu Quy». Sau cánh cổng là khoảng sân rộng. Bờ tường dã chiến bọc quanh cũng bằng lá dừa kết thật công phu trên những thanh tre thấp vừa đủ che khách ngồi tham dự. Một chiếc dù nhà binh giăng cao, tạo thành một căn phòng dã chiến vừa đẹp mắt vừa ấm cúng.

     Kế tiếp khoảng sân, mới chính thật nhà dì của Thắm. Căn nhà gạch mái tranh. Tuy không có bề sâu, nhưng lại có bề ngang rộng. Giữa nhà, trang trí sẵn một bàn thờ Phật, từ đó tỏa ra những dây giấy nhiều màu sắc giăng rộng tứ phía.

     Họ nhà gái đứng dậy, dàn hai bên đón tiếp họ nhà trai. Những lễ vật nhà trai đem tới cũng lễ mễ đàng hoàng không kém. Hai chai rượu đỏ làm bằng nếp cẩm. Hai chai rượu trắng. Một khay cau trầu. Một cặp đèn cầy. Một khay bánh trái. Một khay xôi gấc (khay xôi gấc này, Lâm nhờ người quen gốc Bắc nấu hộ)… Tất cả sính lễ được gói cẩn thận bằng giấy kiếng đỏ. Và cuối cùng đặc biệt nhất vẫn là hộp nữ trang «duông duông» phủ vải nhung đỏ được Ngọc trang trọng đặt ngay chân bàn thờ giữa những lễ vật mà anh em cán bộ vừa để xuống.

     Sau khi đôi bên trình diện giới thiệu nhau, cô dâu trong nhà mới từ từ bước ra.

     Thắm hôm nay khá xinh. Tuy cách trang điểm của cô không tinh xảo lắm, nhưng nhờ khuôn mặt tròn với làn da tràn nhựa sống của cô gái 17 lờ mờ ẩn hiện trong chiếc lúp-vôn giúp Thắm tươi tắn xinh đẹp hẳn lên.

     Thắm mặc chiếc áo dài hồng phấn nhạt, cành hoa thêu thật lớn trải dài từ ngực xuống vạt áo khỏa lấp cái eo hơi… lum lúp của cô. Nhờ bó hoa vải cầm tay xòe rộng, thòng xuống hai sợi ruy-băng, chú rể vừa trao cho cô, đố ai biết được chuyện «thâm cung bí sử» của hai người.

     Sau những nghi lễ lạy tạ gia tiên chứng minh hôn nhân của Thắm, màn đeo nhẫn được  bắt đầu.

     Ngọc tiến tới bưng hộp nữ trang, rồi cứ theo từng lời Lâm giới thiệu đây cặp nhẫn xin chú rể cô dâu đeo cho nhau, đến sợi dây chuyền năm chỉ, đôi bông tai nhận hột, chiếc lắc vàng, tất cả đều 24 ca-ra, Ngọc lần lượt lấy ra thi hành theo mệnh lệnh.

 

     Bữa tiệc đãi khách cũng đầy đặn đàng hoàng không kém. Tuy nấu không cầu kỳ kiểu cách, chỉ là các món ăn xào nấu luộc chiên thường nhật nhưng la liệt đầy bàn xếp trên những tô nhỏ, dĩa nhỏ chồng chéo lên nhau trông không đẹp mắt nhưng nói lên được tấm chân tình hết dạ hiếu khách của người nông thôn.

 

     Sau bữa ăn, họ nhà trai rước cô dâu về nhà chồng. Khách hiếu kỳ lại có dịp túa ra. Trong cái hỗn độn ồn ào của người trong hai họ lẫn với tiếng nhốn nháo của bọn con nít, Ngọc vẫn nghe rất rõ những lời khen tặng trầm trồ của người hiếu kỳ:«Đốm cứ con Thắm thiệt to ghê !», «Con Thắm hôm nay xinh quá bay !», «Thèng chồng nó cũng xinh quá đỗi !», «Xe hơi ở đâu mà nhiều quá chừng quá đất !»… Rồi có lẽ nhìn thấy những nữ trang lấp lánh trên người cô dâu, Ngọc lại nghe họ khen tiếp: «Chéc thèng chồng con Thắm giàu lắm bay. Sợi dây chiền nẹng chịch!»… Ngọc cười, cảm thấy vui lây với tâm hồn mộc mạc, đơn sơ của người nơi đây. Lặng lẽ bước theo đoàn đám cưới, Ngọc nghĩ, chắc Thắm cùng gia đình Thắm rất hãnh diện và vô cùng nở mày nở mặt !

 

*

     Một trong những căn chòi lá lưa thưa rải rác có thể đếm trên đầu ngón tay nằm chơ vơ giữa cánh đồng lúa, ẩn sau những lũy tre xanh, cây ăn trái là nhà của bà Tuân, thân mẫu Thạch.

     Nơi đây cảnh vật thật êm đềm, tĩnh lặng. Nếu ngày xuân được đánh giá qua những bộ quần áo mới, những tấm bánh chưng dưa hành củ kiệu hay tối thiểu vài tấm bánh tổ, bánh nổ, bánh thuẫn… đặc sản rẻ tiền của người miền Trung thì có thể nói, mùa xuân không hiện diện nơi này. Họ nghèo quá. Nghèo đến nỗi những túp lều tranh vách đất vốn đã thấp lè tè còn xiêu vẹo đến tội nghiệp. Căn chòi của bà Tuân chỉ chứa vỏn vẹn được một chiếc giường. Chiếc giường đóng bằng tre, không lớn, dành cho bà nằm, mỗi khi đặt mình ngồi xuống đã cất lên tiếng kêu ọp ẹp.

     Ngoài hiên sát với căn chòi, một nhà bếp dã chiến chế đơn giản bằng ba viên gạch xếp châu vào nhau đặt dưới đất, được che gió mưa bằng ba vách đất, mái tranh chỉ vừa vặn cho một người ngồi. Bà Tuân sống đơn độc cũng như những người dân quanh đây, dường như họ sống chỉ để cho hết kiếp, chứ không phải sống để tận hưởng, thưởng thức cuộc đời.

     Riêng hôm nay, ngày trọng đại của Thạch, chiếc dù quân đội, Thạch cùng anh em cán bộ dựng sừng sững trên khoảng sân gần nhà bà Tuân, mang lại cho xóm một sắc thái mới lạ. Họ tò mò bu lại xung quanh dù. Dù được giăng cao từ một cột tre rồi tỏa rộng ra tứ phía, mắc trên những cọc đóng xung quanh dù.

     Bên trong, Thạch dựng tượng trưng một bàn thờ Phật, vài chiếc bàn và khoảng năm mươi chiếc ghế đẩu. Những bàn ghế cả dù, Lâm hỏi mượn từ quận rồi huy động anh em cán bộ đến giúp.

     Đoàn đám cưới đến đây cuốc bộ từ đường cái quan. Tất cả xe đều gởi trong quận để bảo đảm an ninh, phần bờ ruộng hẹp chỉ dành cho người đi bộ. Phải mất hai chục phút, đoàn người như rồng rắn, kẻ trước người sau cứ hàng một men theo bờ ruộng băng qua đồng lúa. Nắng xuân chan hòa, đường đất khô ráo. Gió từng cơn vi vu mát rượi thổi rạp những hàng lúa từng lớp ngã nghiêng trông như làn sóng lăn tăn. Vài con chim lượn lờ, thỉnh thoảng đáp nhanh kiếm mồi, rồi vội vàng bay vút lên tận trời xanh. Mấy ông bù nhìn có nhiệm vụ hù chim vẫn đứng trơ ra, bất lực. Cảnh đồng quê thiên nhiên lành mạnh dễ làm lòng người khoan khoái. Mọi người vừa đi vừa nói cười thoải mái, có lúc cất tiếng hát như mở rộng lồng ngực để đón không khí trong lành miền thôn dã.

     Đưa cô dâu về nhà chồng từ quận này sang quận kia, đường sá xa xôi, phương tiện xe cộ không thuận lợi, nên gia đình họ hàng nhà gái chả ai theo tiễn Thắm. Mà Thắm, Thạch cũng muốn thế để bớt lo lắng phiền hà.

     Họ nhà trai cuối cùng hầu hết chỉ toàn anh em cán bộ. Người một nhà đã quá quen thuộc, hiểu nhau, Lâm lại sống gần gũi với anh em, sự cảm thông dễ đưa mọi người xích lại. Biết Thạch nghèo, mà chính chàng cùng anh em cũng chả khá giả hơn, nên mọi chi phí trong đám cưới đều trông mong vào «quà tặng» đóng góp của mọi người. Lâm đề nghị về nhà trai giản tiện, gọn, nhẹ trong ăn uống. Một con heo quay nhỏ, bánh mì, đồ chua, ít bia, nước ngọt và bánh ngọt…. Nhưng sôi nổi vẫn là chương trình ca nhạc «cây nhà lá vườn» do chính anh em cán bộ văn nghệ thực hiện. Trống, đàn, kèn được rầm rộ trổi lên. Âm thanh tưng bừng rộn rã xé không gian mênh mông tĩnh lặng loang vào lũy tre già.

     Sẵn nghề của chàng của nàng, cô dâu chú rể mở màn qua nhạc phẩm «Tình nghèo» như kể lể mối duyên ban đầu của hai người:

     «Hò… là… hò… lơ. Hò… là… hò… lờ… Nhớ, nhớ thuở nào, anh cày thuê, em gánh rong, đôi ta nghèo mà hẹn nhau dưới cầu…». Bài hát nghe muồi mẫn, tha thiết nói lên tình cảm chân thành, chân thật của hai kẻ yêu nhau. Họ không ngại gian lao nghèo khó. Họ chỉ cần có nhau trong đời để xẻ chia nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống. Và họ cảm thấy hạnh phúc, niềm hạnh phúc thật sự tận đáy tâm hồn.

     Chương trình ca nhạc tiếp nối với những ca sĩ Tâm Lý Chiến Xây Dựng Nông Thôn. Những bản nhạc chủ đích mừng đám cưới được chọn lọc rất hợp với khung cảnh, hoàn cảnh của Thắm, Thạch: «Trời hôm nay thanh thanh , gió đưa cành mơn man tà áo. Làn mây xanh vây quanh, ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin…».

     Nhân lúc mọi người vui chơi, Ngọc lẻn ra ngoài tận hưởng «Trời thanh thanh, gió đưa cành…» của buổi chiều tà sắp ngã chạng vạng. Ở thành phố lâu, đầy bụi bặm, lẩn quẩn trong xó nhà, đôi khi Ngọc cảm thấy tù túng, ngột ngạt, đầu óc nặng nề. Bây giờ đứng đây, ngắm màu xanh mênh mông của đồng lúa, của cỏ cây, màu xanh của bầu trời bao la, và nhìn những túp lều tranh đơn giản, mộc mạc, Ngọc cảm nhận niềm hạnh phúc êm đềm, thanh thoát, không bon chen, tranh đua, giành giựt… chỉ an phận thủ thường như lời ca sĩ nào đó đang phát ra: «Ngày em lo nương khoai, dưới mưa dầm anh lo cày cấy. Dù cho bao gian lao nhưng tình nghèo góp sức mà vui…». Ngọc tự hỏi, có thật vui không, hay chỉ là những lời an ủi vỗ về trong chốc thời để quên đi những nỗi khó nhọc, và để chấp nhận những gì mình hiện có…

     Ngọc lững thững bước sang căn chòi bà Tuân. Bà đang đứng múc nước rửa mặt bên cái lu sát nhà bếp. Ngọc mon men đến gần hỏi chuyện:

     - Thưa bác, sao bác không vào nghe nhạc ?

     - Nhạc ồn quá, tôi không quen.

     - Sáng nay rước dâu, sao bác không tham dự ?

     - Già yếu quá rồi cô. Lại xa xôi cũng bất tiện.

     - Bác ở đây chỉ một mình thôi à ?

     - Cũng có bà con chòm xóm. Thỉnh thoảng chạy qua chạy lại.

     Ngọc muốn tò mò hỏi thêm gia cảnh của bà cụ, nhưng nghĩ sao, Ngọc lại thôi. Bà cụ bỗng nhiên nói:

     - Thằng Thạch cũng thường về thăm tôi. Rồi bà khoe:

     - Như tối nay, tụi nó ở nhà.

     Ngọc ngạc nhiên:

     - Ở nhà ?

     Dường như đoán được điều thắc mắc của Ngọc, bà Tuân giải thích:

     - Tôi qua chòm xóm ngủ nhờ. Nhường nhà cho tụi nó.

     Vừa lúc đó, từ căn dù, một bản nhạc kích động lại cất lên: «Túp lều lý tưởng của anh và của em» nghe sao mà chí lý, Ngọc không hết ngạc nhiên, ngẫm nghĩ, Ngọc lại cười một mình.

 

     Tiệc cưới chấm dứt khi mặt trời vừa khuất núi. Mọi người dọn dẹp ra về. Chỉ còn lại Thắm, Thạch.

     Giữa khung cảnh mịt mờ của trời đêm mồng bốn Tết, giữa tiếng ếch nhái ễnh ương ra rả ngoài đồng ruộng, Thạch dìu Thắm vào nhà, nhẹ nhàng đưa Thắm ngồi trên chiếc giường tre. Chiếc giường rung rinh đánh “két” một tiếng, làm Thắm hết hồn. Cả hai nhìn nhau khúc khích cười ý nhị. Bên ngoài, màn đêm vẫn mịt mùng, gió xuân nhẹ nhàng vẫn xạc xào trên cành lá, tiếng ếch nhái, ễnh ương vẫn du dương, tất cả như hòa điệu với hai người một bản tình ca bất tận.

 

     Trong chòi, dưới ngọn đèn dầu le lói, Thạch ôm Thắm, Thắm ôm Thạch. Hai người ôm nhau, úm nhau và Thắm thủ thỉ vào tai Thạch:

     - Đêm nay, trong ken chòi này, đúng lòa «một túp lều tranh với hưa trứa  tim doàng », anh hé.

     Thạch cười, đưa tay xoa bụng Thắm, chàng nói:

     - Không, em ạ. “Một túp lều tranh với… ba trái tim vàng !» mới đúng.

                                              Trần Thị Nhật Hưng

                                                               2009

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/07/2021(Xem: 15752)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Minh Có, pháp danh Huệ Đạt, pháp hiệu Hoàn Thông, sinh năm Đinh Tỵ (1917) triều Khải Định năm đầu, tại ấp Hội An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Phuông, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sửu, Ngài mồ côi cha lúc 13 tuổi. Thiện duyên đưa đến cho hạt mầm Bồ đề trong tâm Ngài phát triển. Năm 1930, trong thân tộc có ông Hồ Trinh Tương, gia tư khá giả, phát tâm phụng sự Tam Bảo, xuất tiền của xây một ngôi chùa, lấy hiệu là Hội Thắng Tự. Ông xuất gia đầu Phật, húy là Tường Ninh, pháp danh Đắc Ngộ, pháp hiệu Niệm Hưng và làm trú trì chùa này để hoằng dương đạo pháp. Ngài được thân mẫu cho phép xuất gia với Sư cụ trú trì chùa Hội Thắng khi vừa mồ côi cha, được ban pháp danh Huệ Đạt. Năm 16 tuổi (1933) Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa Di.
25/07/2021(Xem: 9600)
Mấy ngày nay trên Facebook có chia sẻ lại câu chuyện (nghe nói là xảy ra năm 2014) về cô bé đã “ăn cắp” 2 cuốn sách tại một nhà sách ở Gia Lai. Thay vì cảm thông cho cô bé ham đọc sách, người ta đã bắt cô bé lại, trói 2 tay vào thành lan can, đeo tấm bảng ghi chữ “Tôi là người ăn trộm” trước ngực, rồi chụp hình và bêu rếu lên mạng xã hội. Hành động bất nhân, không chút tình người của những người quản lý ở đây khiến ta nhớ lại câu chuyện đã xảy ra cách đây rất lâu: một cậu bé khoảng 14-15 tuổi cũng ăn cắp sách trong tiệm sách Khai Trí của bác Nguyễn Hùng Trương, mà người đời hay gọi là ông Khai Trí. Khi thấy lùm xùm, do nhân viên nhà sách định làm dữ với cậu bé, một vị khách ôn tồn hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện, tỏ vẻ khâm phục cậu bé vì học giỏi mà không tiền mua sách nên phải ăn cắp, ông đã ngỏ lời xin tha và trả tiền sách cho cậu.
23/07/2021(Xem: 31713)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
22/07/2021(Xem: 5360)
Tạp chí Nghiên cứu Phật học, một trong những tạp chí nghiên cứu học thuật về Phật giáo tại Hoa Kỳ, đã có buổi lễ ra mắt các thành viên trong Ban Biên tập và nhận Quyết định Bản quyền Nghiên cứu Học thuật từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 7 năm 2020, Thầy Thích Giác Chinh, người đảm nhận vai trò Sáng lập kiêm Tổng biên tập, đã nhận được Thư chấp thuận cấp mã số ISSN từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: Tạp chí Nghiên cứu Phật học in: ISSN 2692-7357 Tạp chí Nghiên cứu Phật học Online: eISSN 2692-739X Ngôn ngữ: Tiếng Anh.
11/07/2021(Xem: 12067)
Tháng vừa rồi, tôi dành thời gian để đọc và suy ngẫm về cuốn sách “Tìm bình yên trong gia đình”. Đơn giản bởi tôi và nhiều chúng ta đã dành quá nhiều thời gian hướng ngoại và đôi khi quên mất gia đình. Đôi khi giật mình, đã không đầu tư đủ thời gian cho ngôi nhà của mình, đã không biết cách để bình yên luôn có trong ngôi nhà thân thương của mình. Cảm quan về tựa đề sách và trang bìa của cuốn sách khiến tôi có cảm giác như được bước vào một thế giới với những trang sách tràn ngập nội dung bình yên, giúp tôi được bồng bềnh nhẹ tựa mây. Đọc sách, tôi giật mình: Những bước chân trên cuộc hành trình TÌM BÌNH YÊN TRONG GIA ĐÌNH trong cuốn sách thực sự không hẳn êm đềm như những gì tôi tưởng tượng. Sau khi đọc hết một nửa chương sách. Mình đã phải dừng lại hồi lâu. Bởi vì quá xúc động!
16/06/2021(Xem: 31157)
Thời gian như đến rồi đi, như trồi rồi hụp, thiên thu bất tận, không đợi chờ ai và cũng chẳng nghĩ đến ai. Cứ thế, nó đẩy lùi mọi sự vật về quá khứ và luôn vươn bắt mọi sự vật ở tương lai, mà hiện tại nó không bao giờ đứng yên một chỗ. Chuyển động. Dị thường. Thiên lưu. Thiên biến. Từ đó, con người cho nó như vô tình, như lãng quên, để rồi mất mát tất cả... Đến hôm nay, bỗng nghe tiếng nói của các bạn hữu, các nhà tri thức hữu tâm, có cái nhìn đích thực rằng: “Đạo Phật và Tuổi Trẻ.” “Phật Việt Trong Lòng Tộc Việt.” “Dòng Chảy của Phật Giáo Việt Nam” hay “Khởi Đi Từ Hôm Nay.” Tiếng vang từ những lời nói ấy, đánh động nhóm người chủ trương, đặt bút viết tâm tình này. Đạo Phật có mặt trên quê hương Việt Nam hai ngàn năm qua, đã chung lưng đấu cật theo vận nước lênh đênh, khi lên thác, lúc xuống ghềnh, luôn đồng hành với dân tộc. Khi vua Lê Đại Hành hỏi Thiền sư Pháp Thuận về vận nước như thế nào, dài ngắn, thịnh suy? Thì Thiền sư Pháp Thuận đã thấy được vận nước của quê hương mà
10/06/2021(Xem: 20318)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người. Đó là lý do dẫn đến cuộc họp mở rộng giữa chư tôn đức Tăng Ni, Cư sĩ và Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử VN tại hải ngoại và Việt Nam, được tổ chức vào lúc 08:50 PM ngày 08/5/2021 qua chương trình Zoom Online, để rồi đồng thuận tiến đến việc thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp. Hội Đồng Hoằng Pháp bao gồm nhiều
10/06/2021(Xem: 7196)
Mỗi lần đến chùa Vạn Phước, dù không chú ý, Phật tử ai ai cũng thấy Thầy Từ An, phó Trụ Trì chùa, mỗi ngày, ngoài những thời kinh, khóa tu, rảnh rỗi Thầy ra sân chùa cặm cụi nhổ cỏ gấu hết cây này đến cây kia, hết chỗ này đến chỗ nọ. Cứ xoay vần như thế ngày này qua tháng khác, năm này sang năm kia rồi khi cỏ gấu mọc lại, Thầy lại tiếp tục nhổ như một hạnh nguyện. Đặc biệt nữa, cứ mỗi lần nhổ xong một cây cỏ gấu, Thầy thường lẩm nhẩm: “Nhổ này một cây phiền não..., nhổ này một cây phiền não...“. Nhưng Thầy nhổ không bao giờ hết, vì cỏ gấu vốn là một loại cỏ dại, đã là cỏ thì rất khó tiêu diệt. Nếu xịt thuốc chỉ cháy lá hoa ở phần trên, rễ vẫn còn ở phần dưới, thậm chí có nhổ tận gốc nhưng chỉ cần sót lại một chút thân, rễ, một thời gian sau cỏ vẫn mọc lại như thường; chỉ trừ duy nhất tráng xi măng lót gạch, cỏ không còn đất sống may ra mới dứt sạch.
20/05/2021(Xem: 22011)
Kinh Đại Bát Nhã có tất cả 600 quyển, gồm 5 triệu chữ trong 25 ngàn câu, là bộ kinh khổng lồ trong tàng kinh cát của Phật Giáo Đại Thừa, do Đức Thế Tôn thuyết giảng trong 22 năm. Pháp Sư Huyền Trang dịch từ tiếng Phạn sang Hán và Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm (1911-2003) dịch từ Hán sang Việt. Lão Cư Sĩ Thiện Bửu đã dành 10 năm lao nhọc, vừa học Kinh vừa viết luận bản này để xiển dương tư tưởng Bát Nhã theo tinh thần truyền bá và lưu thông. Ông đã khiêm tốn tự nhủ rằng, không biết những gì mình viết có phù hợp với tinh thần của bộ Đại Bát Nhã Ba La Mật hay không, nhưng chúng tôi cho rằng việc làm của Lão Cư Sĩ là việc cần làm và thiết thực hữu ích, ông đã giúp tóm tắt ý nghĩa và chiết giải những chỗ chính yếu của Kinh. Có thể nói đây là bản sớ giải đồ sộ thứ hai (trọn bộ 8 tập) về Kinh Đại Bát Nhã, theo sau Đại Trí Độ Luận (5 tập) ở Việt Nam. Xin tán thán công đức của Lão Cư Sĩ đã đặt viên đá đầu tiên, để khuyến khích cho những hành giả khác, cùng phát tâm xây dựng nền mó
17/05/2021(Xem: 24524)
Có lẽ đây là bài thơ mà tôi đã khóc rất nhiều khi viết lời tán dương và kính mừng lễ Phật Đản như từ nhiều năm qua từ khi bước vào tu học Giáo Lý Phật Đà vì lẽ hơn một năm qua đại dịch đã bộc phát rất mãnh liệt và năm nay có lúc thảm hại tàn khốc như đang xảy ra tại quê hương của Đức Bổn Sư. ... Từ các Thông Bạch từ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT ÂU CHÂU do Đệ Nhất Chủ Tịch: HT Thích Tánh Thiệt và Đệ Nhị Chủ Tích : HT Thích Như Điển đã Thay mặt Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội gửi đi , Và Thông Bạch Phật Đản lần thứ 2645 (TL 2021) của Giáo Hội Úc Châu do HT Hội Chủ Thích Bảo Lạc và cảm động nhất là Thông Bạch của GHPGVNTN Hoa Kỳ do HT Thích Thắng Hoan thay mặt Hội Đồng Giáo phẩm ( kính mời xem chi tiết ) Kính đảnh lễ Chư Tôn Đức và kính tri ân lời chỉ dạy đã giúp con thấy rõ biết thực tại hiện tiền và vững niềm tin trước Giáo Pháp mà Đức Thế Tôn sau khi Thành Đạo đã khai, thị , ngộ , nhập Phật tri kiến đến chúng sinh ...