Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Duyên Xuân

05/01/201502:20(Xem: 1633)
Duyên Xuân

 hoa dao

     Chiều nay từ cơ quan về nhà, Lâm chở theo một cô gái: Cô Thắm. Ngọc, vợ chàng, không mấy ngạc nhiên vì Lâm đã trình bày với nàng từ hôm qua. Thắm 17 tuổi, cán bộ văn nghệ cơ quan Xây Dựng Nông Thôn mà Lâm là Chỉ Huy Trưởng.

     Ăn cơm xong đâu vào đó, theo kế hoạch, vợ chồng Lâm kéo về nhà ông bà Kính, thân sinh của Ngọc, chỉ cách đó 10 phút đi bộ. Ông bà Kính cũng không mấy ngạc nhiên về sự hiện diện của Thắm tối nay, vì ông bà cũng được Lâm thưa trước về vấn đề của Thắm.

     Bà Kính mời Thắm ngồi. Rồi với vẻ thân thiện cởi mở cố hữu, bà vui vẻ bảo Thắm:

     - Thời buổi này trai thiếu gái thừa, khó dễ người ta làm gì thế?

     Thắm tưng tửng, giương cặp mắt ngây ngô thật thà đáp lại:

     - Cũng một vừa hưa phửa thôi chớ!

     Mọi người cười xòa, không chỉ vì giọng nói đặc sệt xứ Quảng của Thắm mà chính còn cái lối làm phách không phải chỗ của Thắm khiến ai nấy không nhịn được cười.

     Thường thì bất cứ cô gái nào ở tuổi cặp kê, sắp yêu, sắp bước vào hôn nhân đều vẫn thế. Nếu không chàng nào ngó đến, chọc ghẹo, họ tiu nghỉu đến tội nghiệp. Nhưng ngược lại, ít nhiều các cô sẽ tự cao, tự đại, đôi khi phách lối bộc lộ một cách rõ ràng hay ngấm ngầm treo cao giá ngọc nếu có một hoặc nhiều chàng chiếu cố “Có duyên, làm cách làm cao. Hết duyên bí thối, bầu thiu, ai thèm“. Trường hợp Thắm không ngoại lệ. Có điều buồn cười ở chỗ, Thắm đã có thai với Thạch gần bốn tháng, bụng Thắm đã lum lúp, thế mà cô vẫn khó dễ Thạch tiến hành chuyện hôn nhân.

     Thạch cũng là cán bộ văn nghệ cùng cơ quan với Thắm. Những ngày tập dượt, hát chung, múa chung, đi lưu diễn chung và nhất là tá túc ngay cơ quan với Thắm đã là nhân duyên nảy sinh tình cảm giữa hai người.

     Từ khi Thắm có thai, Thạch vô cùng bối rối, lo lắng. Không phải anh không muốn cưới cô, hiềm nỗi anh nghèo quá. Đồng lương ba cọc ba đồng của một cán bộ dân vận chỉ đủ cho anh lây lất sống dựa trong cơ quan: Ăn trong cơ quan và ngủ tại cơ quan. Ngoài ra, anh còn nặng gánh một mẹ già. Bà cụ chỉ có mình anh nương náu và trông chờ nơi anh. Chiến tranh đã cướp mất của bà người chồng thân yêu, ruộng vườn nhà cửa. Bà trôi giạt, lánh nạn tại vùng an ninh vá víu tạm bợ trong căn chòi xiêu vẹo. Hơn một nửa phần lương vốn ít ỏi của anh, anh dành lo nuôi mẹ.

     Gia cảnh Thắm càng tệ hơn. Nàng mồ côi cha mẹ từ khi mới lọt lòng. Thuở bé dại, Thắm nương nhờ vào sự nuôi nấng của một người dì. Tiếc rằng dì cô cũng không khá giả mấy. Cho nên mới 16 tuổi, Thắm rời quê lên thị trấn kiếm ăn. Nhờ có làn hơi phong phú, hát tạm nghe được và một thân hình cân đối đẩy đà, nàng được tuyển vào ban văn nghệ Xây Dựng Nông Thôn.

     Những ngày cùng sống, cùng làm việc chung với Thạch, Thắm cũng có một gian phòng nhỏ tại cơ quan như Thạch, tình cảm giữa cô và Thạch nảy nở. Rồi với thời gian “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén“, cái thai trong bụng Thắm là kết quả mối tình vụng trộm của hai người.

      Trước hoàn cảnh của Thắm và Thạch như vậy, cuộc tình cả hai đi vào bế tắc, cho đến khi Lâm xuất hiện, mới nhậm chức Chỉ Huy Trưởng từ một tháng nay. Những lời dị nghị bàn tán trong cơ quan, cuối cùng rồi cũng đến tai Lâm. Không thể để tình trạng khó coi kéo dài, nhất là đối với một cơ quan tuyên truyền, Lâm đã gọi Thạch lên văn phòng chất vấn.

     - Thưa anh, em thật tình thương Thắm, muốn cưới cô ấy làm vợ, nhưng gia cảnh em nghèo quá, tiền đâu để bàn chuyện cưới xin?

     - Nếu như thế, anh sẽ đứng ra hợp thức hóa đám cưới của hai em trong phạm vi đơn giản nhất với những lễ nghi cần thiết. Ý em thế nào?

     - Thưa anh, được như vậy thì còn gì bằng. Trăm sự em nhờ anh và chân thành cám ơn anh.

     Thế là từ đó, Lâm đứng ra lo liệu. Chàng chủ hôn cùng một số cán bộ trong cơ quan đại diện họ nhà trai về tận quê Thắm để bàn chuyện cưới hỏi. Chàng cho phép Thắm, Thạch lãnh lương trước kỳ hạn để chuẩn bị ít nhất hai bộ áo cưới, và một tiệc trà thân mật hợp đồng lương của hai người. Ai ngờ mọi sự tưởng suông sẻ, tình cảnh vốn khó khăn, gia đình người dì Thắm làm cao gây thêm nhiều khó khăn khác. Họ đòi hỏi một tiệc rượu đãi đằng quan viên hai họ. Tiền cưới cheo: Hai đôi xuyến, một sợi dây chuyền, một cặp nhẫn, lắc đeo tay mà còn phải là vàng 24 ca-ra mới hợp lệ !

     Sự đòi hỏi này chỉ làm mệt trí thêm cho Lâm hơn là Thạch. Bữa tiệc rượu Lâm nghĩ, có thể trang trải được từ «quà» của khách tham dự. Nhưng nữ trang kiếm đâu ra nếu không phiền ông bà nhạc mà Lâm vừa làm rể hai tháng trước đó. Lâm đặt vấn đề hỏi mượn ông bà Kính và hứa sẽ hoàn trả vài ngày sau khi cô dâu bước chân về nhà chồng.

     Nể tình con rể, hưởng ứng việc làm của Lâm, thông cảm hoàn cảnh Thắm, ông bà Kính vui vẻ tiếp Thắm. Tiếng của Thắm lại cất lên:

     - Đốm cứ  thì phửa đeo dòng doàng chớ !

     Mọi người lại cười xòa, trong khi mặt Thắm cứ tỉnh khô. Ngọc tinh nghịch trêu cô:

     - Dòng doàng gồm những gì dẫy ?

     - Phửa hưa đôi xiến, dây chiền, nhẻnléc !    Thắm đáp. Rồi với nét mặt hồn nhiên tưng tửng cố hữu, Thắm thật thà giải thích:

     - Đốm cứ, lối xóm con đổ con mét vô nhìn, mình phửa lồm đoàng quoàng để nở mài nở mẹt chớ !

     Nhìn bụng Thắm lum lúp, hơi phình ra dưới lớp áo, Ngọc định trêu cô: «Đám cưới cứ đeo trống như Thắm là đặc biệt nhất, cần gì phải vòng vàng» nhưng nghĩ quá đáng, Ngọc lại thôi.

     Bà Kính từ buồng bước ra với một hộp nữ trang. Bà mở nắp lôi ra một sợi dây chuyền vàng có gắn một mặt ngọc xanh, một chiếc lắc đeo tay cũng có gắn năm mặt ngọc thạch xanh hình ô vuông, đôi hoa tai và một cặp nhẫn. Tất cả đều vàng 24 ca-ra chiếu sáng lấp lánh dưới ngọn đèn néon. Mọi người đổ mắt vào nhìn xăm xoi trầm trồ. Riêng Ngọc không mấy ngạc nhiên vì trước đó hai tháng, ngày đám cưới của nàng với Lâm, Ngọc đã được xem qua. Chính những món nữ trang này, bà Kính định tặng nàng trong ngày cưới, nhưng Ngọc lắc đầu không nhận.

     Nàng vốn không thích nữ trang, không quan tâm nhiều đến đồ trang sức. Trong hôn nhân, Ngọc chỉ cần trái tim chân thành, một tình yêu chân thật là đủ. Tuy nhiên, cần theo đúng phong tục lễ nghi, bất đắc dĩ nàng mới yêu cầu Lâm sắm cho nàng chiếc nhẫn vàng tây, nhẹ, đơn giản phù hợp với túi tiền của chàng, thế thôi. Và vì lẽ đó, nàng đã không có nữ trang cho Thắm mượn, để phải phiền đến bố mẹ mình.

     Bà Kính sau khi kiểm điểm xong, bà trao hộp nữ trang cho Ngọc. Trách nhiệm của nàng, với tư cách vợ Lâm, chủ hôn, đại diện họ nhà trai, tận tay Ngọc đeo cho Thắm trong ngày đón dâu, rồi sau đó có nhiệm vụ nhận về trao trả lại cho mẹ.

     Tất cả mọi người, nhất là Thắm, đều bằng lòng theo kế hoạch của Lâm. Ai nấy vui vẻ bàn chuyện. Hỉ hả về ngày cưới của Thắm. Ngọc còn cho Thắm mượn lúp đội đầu, hoa cầm tay, găng tay của nàng và nhiều thứ lặt vặt khác có thể trang điểm cho cô dâu giúp Thắm bớt phần chi phí.

     Và ngày cưới, không thể chần chờ lâu hơn, mọi người cùng Thắm, Thạch ấn định vào mồng bốn Tết năm đó.

*

     Một đoàn xe Jeep có tới 10 chiếc. Đi đầu là xe của vợ chồng Lâm, kế tới một chiếc Huê Kỳ trắng kết hoa rực rỡ chở Thạch ngồi phía sau. Tất cả những xe này Lâm đều hỏi mượn từ các cơ quan bạn.

     Đoàn xe đi bon bon nhắm hướng quê Thắm trực chỉ giữa tiếng pháo chuột đì đùng đây đó nổ vang.

     Mồng bốn Tết, ngày vui vẫn còn tưng bừng nơi tỉnh lẻ. Nét xuân vẫn hiện hữu trên sắc diện của mọi người, mọi nhà. Phố sá nhà cửa vẫn còn nguyên cách  trang hoàng với liễn đối, cây cảnh, vạn thọ, thược dược, cúc, mai vàng… Trẻ con người lớn quần áo vẫn tươm tất bảnh bao. Chưa ai nghĩ đến công việc, ngoài những xe hàng rong: mực nướng thơm phứt, cóc giằm, ổi, xoài ngâm, pháo chuột… phục vụ ngày Tết, nhằm móc tiền lì-xì của bọn con nít. Đó đây những trò chơi bầu cua cá cọp vẫn tụ bảy tụ năm. Tiếng reo hò lâu lâu vẫn xen trong tiếng pháo. Những lời chúc năm mới vẫn rôm rả trên miệng mọi người. Ngày xuân trong lòng như bất tận.

     Tết nông thôn càng đặc biệt hơn, càng rõ nét hơn. Dù ba ngày Tết đã trôi qua, mùa xuân vẫn thể hiện trong họ qua sắc màu sặc sỡ «xanh xanh, đỏ đỏ, cho em nhỏ nó mừng» từ quần áo đến món ăn, cách bài trí nhất nhất đều rực rỡ, và nhất là qua nét mặt vui tươi thảnh thơi, gác bỏ những lam lũ vất vả của ngày thường để thực sự tận hưởng những ngày vui đầu năm mới «tháng giêng là tháng ăn chơi» mà ! Cho nên họ chơi hết mình, dù giàu hay nghèo, họ vẫn cố gắng tạo cho gia đình, làng xóm một sắc thái «một ngày không như mọi ngày». Và trò chơi «bài chòi » thường được hưởng ứng nhiệt liệt nhất. Họ say mê đến độ ca dao phải thốt lên: «Rủ nhau đi đấu bài chòi. Để cho con khóc đến lòi rún ra», hoặc: «Gió Xuân phảng phất ngọn tre. Hai bên cô bác lắng nghe bài chòi ».

     Bài chòi là một trò chơi xuân, thú vui tao nhã, có tính cách dân gian, mục đích giải trí hơn sát phạt. Dù say mê đến đâu, chả ai chơi bài chòi để phải tan nhà nát cửa. Và ngược lại cũng chả ai giàu có nhờ chơi bài chòi. Qua bài chòi, cả làng có cơ hội tụ họp, vì bài chòi thường tổ chức ở khoảng sân rộng trong làng, người dân vui chơi thoải mái, cùng lúc vô tình trung tiếp thụ một cách tự nhiên, dễ dàng, văn chương bình dân nhưng ý nghĩa vô cùng phung phú thể hiện qua bài vè, bài hát, ca dao Việt Nam do anh hiệu thường là người miệng mồm dẻo quẹo, chẳng những thuộc nhiều ca dao, thơ, nhạc mà đôi khi còn ứng khẩu thành… ca dao mới để góp phần cho nền văn học dân gian nữa.

     Chẳng hạn để nói về con bài «nhứt trò» (có hình anh học trò), anh hiệu ngâm to, chậm rãi để chờ cho người tham dự dùng trí tưởng tượng ra đoán:

 

     Tay cầm quyển sách bìa vàng.

     Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu.

 

     Hoặc con bài “ba bụng” có hình một ông, hai bà:

 

     Một chàng hai thiếp khó phân

     Anh về nghĩ lại để cầm cân cho bằng.

     v.v… và v.v…

     Nếu ai nhận trước được ba con bài, người đó thắng cuộc.

 

     Ngoài bài chòi, còn nhiều nhóm lớn, nhỏ tụ họp đánh chén, tán gẫu, say sưa quên đời. Hoặc còn chơi nhiều bài bạc khác nhau nữa. Họ thật sự thảnh thơi.  Thật sự tận hưởng thú vui của ngày đầu năm. Chỉ riêng nhà người dì của Thắm, trong niềm hân hoan bận rộn thưởng xuân còn hớn hở lo tiếp đón nhà trai đến rước cô dâu.

     Đoàn xe bắt đầu quanh co quẹo vào ngõ hẻm. Đường đất sỏi khiến chiếc xe lắc lư. Không ai bảo ai, đoàn xe từ từ chậm lại, nhưng vẫn không tránh khỏi bụi đường tung bay dưới nắng xuân rực rỡ. Hàng cây bên đường thỉnh thoảng quẹt nhẹ vào xe. Ngọc đổi lại thế ngồi, tay vịn chặt vào thành ghế của Lâm phía trước. Hộp nữ trang phủ nhung đỏ viền ren trắng im lìm nằm bên cạnh. Ngọc đưa mắt liếc nhìn rồi tự nhiên cười một mình.

     Đoàn xe quanh co một lúc, cuối cùng nối đuôi dừng lại truớc nhà dì của Thắm. Một tràng pháo nổ chào đón họ nhà trai. Con nít từ đâu túa ra cùng người hiếu kỳ hai bên đường vây quanh đoàn người mới đến. Đợi tiếng pháo vừa dứt, họ nhà trai hàng một lần lượt đi trên xác pháo bước vào cổng nhà Thắm.

 

     Chiếc cổng dã chiến kết bằng lá dừa, cắt xén gọn gàng rất mỹ thuật hài hòa với màu sắc của hai chữ «Vu Quy». Sau cánh cổng là khoảng sân rộng. Bờ tường dã chiến bọc quanh cũng bằng lá dừa kết thật công phu trên những thanh tre thấp vừa đủ che khách ngồi tham dự. Một chiếc dù nhà binh giăng cao, tạo thành một căn phòng dã chiến vừa đẹp mắt vừa ấm cúng.

     Kế tiếp khoảng sân, mới chính thật nhà dì của Thắm. Căn nhà gạch mái tranh. Tuy không có bề sâu, nhưng lại có bề ngang rộng. Giữa nhà, trang trí sẵn một bàn thờ Phật, từ đó tỏa ra những dây giấy nhiều màu sắc giăng rộng tứ phía.

     Họ nhà gái đứng dậy, dàn hai bên đón tiếp họ nhà trai. Những lễ vật nhà trai đem tới cũng lễ mễ đàng hoàng không kém. Hai chai rượu đỏ làm bằng nếp cẩm. Hai chai rượu trắng. Một khay cau trầu. Một cặp đèn cầy. Một khay bánh trái. Một khay xôi gấc (khay xôi gấc này, Lâm nhờ người quen gốc Bắc nấu hộ)… Tất cả sính lễ được gói cẩn thận bằng giấy kiếng đỏ. Và cuối cùng đặc biệt nhất vẫn là hộp nữ trang «duông duông» phủ vải nhung đỏ được Ngọc trang trọng đặt ngay chân bàn thờ giữa những lễ vật mà anh em cán bộ vừa để xuống.

     Sau khi đôi bên trình diện giới thiệu nhau, cô dâu trong nhà mới từ từ bước ra.

     Thắm hôm nay khá xinh. Tuy cách trang điểm của cô không tinh xảo lắm, nhưng nhờ khuôn mặt tròn với làn da tràn nhựa sống của cô gái 17 lờ mờ ẩn hiện trong chiếc lúp-vôn giúp Thắm tươi tắn xinh đẹp hẳn lên.

     Thắm mặc chiếc áo dài hồng phấn nhạt, cành hoa thêu thật lớn trải dài từ ngực xuống vạt áo khỏa lấp cái eo hơi… lum lúp của cô. Nhờ bó hoa vải cầm tay xòe rộng, thòng xuống hai sợi ruy-băng, chú rể vừa trao cho cô, đố ai biết được chuyện «thâm cung bí sử» của hai người.

     Sau những nghi lễ lạy tạ gia tiên chứng minh hôn nhân của Thắm, màn đeo nhẫn được  bắt đầu.

     Ngọc tiến tới bưng hộp nữ trang, rồi cứ theo từng lời Lâm giới thiệu đây cặp nhẫn xin chú rể cô dâu đeo cho nhau, đến sợi dây chuyền năm chỉ, đôi bông tai nhận hột, chiếc lắc vàng, tất cả đều 24 ca-ra, Ngọc lần lượt lấy ra thi hành theo mệnh lệnh.

 

     Bữa tiệc đãi khách cũng đầy đặn đàng hoàng không kém. Tuy nấu không cầu kỳ kiểu cách, chỉ là các món ăn xào nấu luộc chiên thường nhật nhưng la liệt đầy bàn xếp trên những tô nhỏ, dĩa nhỏ chồng chéo lên nhau trông không đẹp mắt nhưng nói lên được tấm chân tình hết dạ hiếu khách của người nông thôn.

 

     Sau bữa ăn, họ nhà trai rước cô dâu về nhà chồng. Khách hiếu kỳ lại có dịp túa ra. Trong cái hỗn độn ồn ào của người trong hai họ lẫn với tiếng nhốn nháo của bọn con nít, Ngọc vẫn nghe rất rõ những lời khen tặng trầm trồ của người hiếu kỳ:«Đốm cứ con Thắm thiệt to ghê !», «Con Thắm hôm nay xinh quá bay !», «Thèng chồng nó cũng xinh quá đỗi !», «Xe hơi ở đâu mà nhiều quá chừng quá đất !»… Rồi có lẽ nhìn thấy những nữ trang lấp lánh trên người cô dâu, Ngọc lại nghe họ khen tiếp: «Chéc thèng chồng con Thắm giàu lắm bay. Sợi dây chiền nẹng chịch!»… Ngọc cười, cảm thấy vui lây với tâm hồn mộc mạc, đơn sơ của người nơi đây. Lặng lẽ bước theo đoàn đám cưới, Ngọc nghĩ, chắc Thắm cùng gia đình Thắm rất hãnh diện và vô cùng nở mày nở mặt !

 

*

     Một trong những căn chòi lá lưa thưa rải rác có thể đếm trên đầu ngón tay nằm chơ vơ giữa cánh đồng lúa, ẩn sau những lũy tre xanh, cây ăn trái là nhà của bà Tuân, thân mẫu Thạch.

     Nơi đây cảnh vật thật êm đềm, tĩnh lặng. Nếu ngày xuân được đánh giá qua những bộ quần áo mới, những tấm bánh chưng dưa hành củ kiệu hay tối thiểu vài tấm bánh tổ, bánh nổ, bánh thuẫn… đặc sản rẻ tiền của người miền Trung thì có thể nói, mùa xuân không hiện diện nơi này. Họ nghèo quá. Nghèo đến nỗi những túp lều tranh vách đất vốn đã thấp lè tè còn xiêu vẹo đến tội nghiệp. Căn chòi của bà Tuân chỉ chứa vỏn vẹn được một chiếc giường. Chiếc giường đóng bằng tre, không lớn, dành cho bà nằm, mỗi khi đặt mình ngồi xuống đã cất lên tiếng kêu ọp ẹp.

     Ngoài hiên sát với căn chòi, một nhà bếp dã chiến chế đơn giản bằng ba viên gạch xếp châu vào nhau đặt dưới đất, được che gió mưa bằng ba vách đất, mái tranh chỉ vừa vặn cho một người ngồi. Bà Tuân sống đơn độc cũng như những người dân quanh đây, dường như họ sống chỉ để cho hết kiếp, chứ không phải sống để tận hưởng, thưởng thức cuộc đời.

     Riêng hôm nay, ngày trọng đại của Thạch, chiếc dù quân đội, Thạch cùng anh em cán bộ dựng sừng sững trên khoảng sân gần nhà bà Tuân, mang lại cho xóm một sắc thái mới lạ. Họ tò mò bu lại xung quanh dù. Dù được giăng cao từ một cột tre rồi tỏa rộng ra tứ phía, mắc trên những cọc đóng xung quanh dù.

     Bên trong, Thạch dựng tượng trưng một bàn thờ Phật, vài chiếc bàn và khoảng năm mươi chiếc ghế đẩu. Những bàn ghế cả dù, Lâm hỏi mượn từ quận rồi huy động anh em cán bộ đến giúp.

     Đoàn đám cưới đến đây cuốc bộ từ đường cái quan. Tất cả xe đều gởi trong quận để bảo đảm an ninh, phần bờ ruộng hẹp chỉ dành cho người đi bộ. Phải mất hai chục phút, đoàn người như rồng rắn, kẻ trước người sau cứ hàng một men theo bờ ruộng băng qua đồng lúa. Nắng xuân chan hòa, đường đất khô ráo. Gió từng cơn vi vu mát rượi thổi rạp những hàng lúa từng lớp ngã nghiêng trông như làn sóng lăn tăn. Vài con chim lượn lờ, thỉnh thoảng đáp nhanh kiếm mồi, rồi vội vàng bay vút lên tận trời xanh. Mấy ông bù nhìn có nhiệm vụ hù chim vẫn đứng trơ ra, bất lực. Cảnh đồng quê thiên nhiên lành mạnh dễ làm lòng người khoan khoái. Mọi người vừa đi vừa nói cười thoải mái, có lúc cất tiếng hát như mở rộng lồng ngực để đón không khí trong lành miền thôn dã.

     Đưa cô dâu về nhà chồng từ quận này sang quận kia, đường sá xa xôi, phương tiện xe cộ không thuận lợi, nên gia đình họ hàng nhà gái chả ai theo tiễn Thắm. Mà Thắm, Thạch cũng muốn thế để bớt lo lắng phiền hà.

     Họ nhà trai cuối cùng hầu hết chỉ toàn anh em cán bộ. Người một nhà đã quá quen thuộc, hiểu nhau, Lâm lại sống gần gũi với anh em, sự cảm thông dễ đưa mọi người xích lại. Biết Thạch nghèo, mà chính chàng cùng anh em cũng chả khá giả hơn, nên mọi chi phí trong đám cưới đều trông mong vào «quà tặng» đóng góp của mọi người. Lâm đề nghị về nhà trai giản tiện, gọn, nhẹ trong ăn uống. Một con heo quay nhỏ, bánh mì, đồ chua, ít bia, nước ngọt và bánh ngọt…. Nhưng sôi nổi vẫn là chương trình ca nhạc «cây nhà lá vườn» do chính anh em cán bộ văn nghệ thực hiện. Trống, đàn, kèn được rầm rộ trổi lên. Âm thanh tưng bừng rộn rã xé không gian mênh mông tĩnh lặng loang vào lũy tre già.

     Sẵn nghề của chàng của nàng, cô dâu chú rể mở màn qua nhạc phẩm «Tình nghèo» như kể lể mối duyên ban đầu của hai người:

     «Hò… là… hò… lơ. Hò… là… hò… lờ… Nhớ, nhớ thuở nào, anh cày thuê, em gánh rong, đôi ta nghèo mà hẹn nhau dưới cầu…». Bài hát nghe muồi mẫn, tha thiết nói lên tình cảm chân thành, chân thật của hai kẻ yêu nhau. Họ không ngại gian lao nghèo khó. Họ chỉ cần có nhau trong đời để xẻ chia nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống. Và họ cảm thấy hạnh phúc, niềm hạnh phúc thật sự tận đáy tâm hồn.

     Chương trình ca nhạc tiếp nối với những ca sĩ Tâm Lý Chiến Xây Dựng Nông Thôn. Những bản nhạc chủ đích mừng đám cưới được chọn lọc rất hợp với khung cảnh, hoàn cảnh của Thắm, Thạch: «Trời hôm nay thanh thanh , gió đưa cành mơn man tà áo. Làn mây xanh vây quanh, ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin…».

     Nhân lúc mọi người vui chơi, Ngọc lẻn ra ngoài tận hưởng «Trời thanh thanh, gió đưa cành…» của buổi chiều tà sắp ngã chạng vạng. Ở thành phố lâu, đầy bụi bặm, lẩn quẩn trong xó nhà, đôi khi Ngọc cảm thấy tù túng, ngột ngạt, đầu óc nặng nề. Bây giờ đứng đây, ngắm màu xanh mênh mông của đồng lúa, của cỏ cây, màu xanh của bầu trời bao la, và nhìn những túp lều tranh đơn giản, mộc mạc, Ngọc cảm nhận niềm hạnh phúc êm đềm, thanh thoát, không bon chen, tranh đua, giành giựt… chỉ an phận thủ thường như lời ca sĩ nào đó đang phát ra: «Ngày em lo nương khoai, dưới mưa dầm anh lo cày cấy. Dù cho bao gian lao nhưng tình nghèo góp sức mà vui…». Ngọc tự hỏi, có thật vui không, hay chỉ là những lời an ủi vỗ về trong chốc thời để quên đi những nỗi khó nhọc, và để chấp nhận những gì mình hiện có…

     Ngọc lững thững bước sang căn chòi bà Tuân. Bà đang đứng múc nước rửa mặt bên cái lu sát nhà bếp. Ngọc mon men đến gần hỏi chuyện:

     - Thưa bác, sao bác không vào nghe nhạc ?

     - Nhạc ồn quá, tôi không quen.

     - Sáng nay rước dâu, sao bác không tham dự ?

     - Già yếu quá rồi cô. Lại xa xôi cũng bất tiện.

     - Bác ở đây chỉ một mình thôi à ?

     - Cũng có bà con chòm xóm. Thỉnh thoảng chạy qua chạy lại.

     Ngọc muốn tò mò hỏi thêm gia cảnh của bà cụ, nhưng nghĩ sao, Ngọc lại thôi. Bà cụ bỗng nhiên nói:

     - Thằng Thạch cũng thường về thăm tôi. Rồi bà khoe:

     - Như tối nay, tụi nó ở nhà.

     Ngọc ngạc nhiên:

     - Ở nhà ?

     Dường như đoán được điều thắc mắc của Ngọc, bà Tuân giải thích:

     - Tôi qua chòm xóm ngủ nhờ. Nhường nhà cho tụi nó.

     Vừa lúc đó, từ căn dù, một bản nhạc kích động lại cất lên: «Túp lều lý tưởng của anh và của em» nghe sao mà chí lý, Ngọc không hết ngạc nhiên, ngẫm nghĩ, Ngọc lại cười một mình.

 

     Tiệc cưới chấm dứt khi mặt trời vừa khuất núi. Mọi người dọn dẹp ra về. Chỉ còn lại Thắm, Thạch.

     Giữa khung cảnh mịt mờ của trời đêm mồng bốn Tết, giữa tiếng ếch nhái ễnh ương ra rả ngoài đồng ruộng, Thạch dìu Thắm vào nhà, nhẹ nhàng đưa Thắm ngồi trên chiếc giường tre. Chiếc giường rung rinh đánh “két” một tiếng, làm Thắm hết hồn. Cả hai nhìn nhau khúc khích cười ý nhị. Bên ngoài, màn đêm vẫn mịt mùng, gió xuân nhẹ nhàng vẫn xạc xào trên cành lá, tiếng ếch nhái, ễnh ương vẫn du dương, tất cả như hòa điệu với hai người một bản tình ca bất tận.

 

     Trong chòi, dưới ngọn đèn dầu le lói, Thạch ôm Thắm, Thắm ôm Thạch. Hai người ôm nhau, úm nhau và Thắm thủ thỉ vào tai Thạch:

     - Đêm nay, trong ken chòi này, đúng lòa «một túp lều tranh với hưa trứa  tim doàng », anh hé.

     Thạch cười, đưa tay xoa bụng Thắm, chàng nói:

     - Không, em ạ. “Một túp lều tranh với… ba trái tim vàng !» mới đúng.

                                              Trần Thị Nhật Hưng

                                                               2009

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/06/202109:03(Xem: 2562)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người. Đó là lý do dẫn đến cuộc họp mở rộng giữa chư tôn đức Tăng Ni, Cư sĩ và Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử VN tại hải ngoại và Việt Nam, được tổ chức vào lúc 08:50 PM ngày 08/5/2021 qua chương trình Zoom Online, để rồi đồng thuận tiến đến việc thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp. Hội Đồng Hoằng Pháp bao gồm nhiều
01/01/202109:18(Xem: 92583)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
25/10/202106:42(Xem: 94)
Mây qua trời. Có khi trắng, có khi đen. Có khi tụ, có khi tán. Ngưng tụ mà thực ra là chuyển động liên tục; tán thất mà thực không mất đi đâu. Vận hành tự tại, biến hóa vô số hình thù, rồi tan biến, rồi kết tụ trong một hình thể khác, hiện hữu nơi một không gian khác. Đến-đi cùng khắp, đông tây, nam bắc, phương trên hay phương dưới, không nơi nào mà không có mặt. Từ vô cùng quá khứ đến hiện tại và vô tận tương lai, trông như giống mà thực không giống, trông như cũ mà thực không cũ. Luôn mới mẻ tinh khôi trong từng giây phút. Đêm lẫn ngày, vẫn thường sinh-diệt, chuyển biến không ngừng. Tùy duyên ứng hiện, nơi đâu rồi cũng thuận hợp, chan hòa.
04/10/202114:30(Xem: 360)
Trong những gì tôi được đọc và được nghe kể, hình như nhà thơ Bùi Giáng không còn tham sân si, hay nếu còn, thì rất là ít. Không rõ có ai chứng kiến lúc nào Bùi Giáng khởi tâm tham sân si hay không. Rất nhiều người đã thân cận, đã chứng kiến đời thường của nhà thơ họ Bùi và đều nhận thấy nhà thơ như là người của cõi khác, người bay trên mây, người lạc tới thế gian này, như dường không còn chút nào tham sân si; hay chỉ còn, nếu có, thì rất ít.
30/09/202113:15(Xem: 233)
Bên cửa sổ, tia nắng chiều thu len vào. Gió mơn man rung nhẹ lá cây vườn ngoài. Lá vàng lá xanh cùng phơi mình quanh cội cây già. Mùi cỏ thơm dìu dịu gây nỗi nhớ bâng quơ. Tiếng vĩ cầm du dương đâu đó dìu dặt đưa hồn về cảnh cũ quê xưa.
26/09/202118:49(Xem: 508)
Mùa Hạ nóng bức đã đi qua, mùa Thu chợt đến mang theo những cơn mưa đầu mùa, dấu chân ấy đang lang thang khắp cả dãi nắng niềm Trung, ra tận khắp hai đầu Nam - Bắc. Những giọt mưa đông đang tràn về khi dịch tể hoành hành khắp đất trời và trên Thế giới, trong đó có Việt Nam, khiến cho bao nhiêu triệu người bị thiệt mạng, dẫu có thuốc ngăn ngừa tiêm chủng trên Thế giới, giờ tất cả sống chung với căn bệnh Virus Corona, vì một Đại cuộc sinh tồn bảo vệ nhân sinh. Từ một Quốc gia có tiềm lực kinh tế giàu mạnh, khởi tâm tình thương chia sẻ viện trợ cho Quốc gia mới phát triển, giúp cho hàng tỉ người được tiêm chủng phòng ngừa, giờ tất cả nhân loại đang sống chung với Virus Corona, ai ai cũng nên tuân thủ việc bịt khẩu trang vì chúng ta hãy hiểu rằng: “Bịt khẩu trang, sẽ dễ chịu hơn nhiều, khi mang theo máy thở”.
19/09/202110:08(Xem: 404)
Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27/02/1917 tại Hà Nội. Mất ngày 12/9/1986, tại Minnesota, Hoa Kỳ. Học sinh trường Bưởi; Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao Đẳng Canh Nông. Tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà Nội và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng. Từ 1948 Vũ Khắc Khoan bắt đầu in bài trên báo Phổ Thông: hai vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948) và Giao thừa (1949) và bài tùy bút Mơ Hương Cảng (1953).
03/09/202111:21(Xem: 431)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên trên cù lao Ông Chưởng, bên dòng sông Hậu giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay trường, thương súc vật và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
03/09/202111:05(Xem: 533)
Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra. Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế.
31/08/202119:14(Xem: 1005)
Di tích cổ đại Phật giáo Ấn Độ A Chiên Đà Thạch quật (Ajanta, 印度古代佛教阿旃陀石窟) vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt nghìn năm tuyệt tác, tọa lạc trên vách núi Maharashtra Dayak, phía Bắc của bang Maharashtra, Ấn Độ với 30 hang động được xây dựng từ thế kỷ thứ 2-7 trước Tây lịch. Trong A Chiên Đà Thạch quật có rất nhiều tranh cổ và một số bức bích họa được xem là ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo. Hang động vòng vách núi hình lưỡi liềm, tường thấp, trải dài hơn 550 mét. Với kiến trúc mỹ thuật tráng lệ, nét chạm khắc và bích họa tinh tế hoành tráng, là một Thánh địa Phật giáo, một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất phía Nam Ấn Độ. Di tích cổ đại Phật giáo Ấn Độ A Chiên Đà Thạch quật là một trong những di sản lớn nhất về đạo Phật còn lưu giữ được đến ngày nay. Theo UNESCO, đây là những kiệt tác của Nghệ thuật kiến trúc Phật giáo có ảnh hưởng đến nghệ thuật Ấn Độ sau này. Các hang động được xây dựng thành hai giai đoạn, giai đoạn đầu được xây dựng từ thế kỷ thứ 2 TCN và giai đoạn