Như Lai Thiền Thực Hành

29/03/201320:42(Xem: 22799)
Như Lai Thiền Thực Hành
Nhu Lai Thien Thuc Hanh_Minh Thien Tran Huu Danh

MỤC L ỤC
Đề mục Trang
Thay lời giới thiệu……………………….………2
NHƯ LAI THIỀN thực hành………….…………………….3
Mở đầu :………………………………………….3
TỔ SƯ THIỀN:………………………………….4
NHƯ LAI THIỀN:………………………………8
1- Đoạn trừ năm Triền Cái: .......................... 11
2- Thực tập năm Thiền Chi: ......................... 13
3- Thực tập các bậc Thiền: .......................... 19
3.0- Chuẩn bị vào thiền : .............................. 19
3.1- Sơ Thiền : .............................................. 20
3.2 - Nhị Thiền : ........................................... 22
3.3- Tam Thiền : ........................................... 23
3.4- Tứ Thiền : ............................................. 24
3.5- Không Vô Biên Xứ : ............................. 29
3.6- Thức Vô Biên Xứ : ............................... 30
3.7- Vô Sở Hữu Xứ : .................................... 32
3.8- Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ : ............. 33
3.9- Diệt Thọ Tưởng Định : ......................... 34
Xuất thiền : ................................................... 37
Xả thiền : ...................................................... 37
Cách ngồi BÁN GIÀ và KIẾT GIÀ…………...39
TÓM Ý CHÍN BẬC NHƯ LAI THIỀN………50
Pháp hành NHƯ LAI THIỀN…………………53
NHƯ LAI THIỀN là gì ?....................................57
Nguồn gốc Như Lai Thiền: .......................... 57
Như Lai Thiền và Ba Cõi Luân Hồi: ............ 59
221
Như Lai Thiền và Năm Triền Cái (nīvaraṇa): ...................................................................... 63
Như Lai Thiền và Năm Thiền Chi (jhānanga): ...................................................................... 64
Như Lai Thiền và Chỉ (samatha) / Quán (vipassanā): .................................................. 64
Như Lai Thiền và Định (samādhi) / Tuệ (paññā): ........................................................ 65
Như Lai Thiền và Nhập Tức Xuất Tức Niệm (ānāpānasati): ............................................... 65
Như Lai Thiền và Tứ Niệm Xứ (Cattāro satipaṭṭhānā): ................................................ 65
Như Lai Thiền và Chánh Niệm Tỉnh Giác (satisampajañña): ......................................... 66
Như Lai Thiền và Bảy Giác Chi (sattabojjhaṅgā): ........................................... 66
Kết luận: ....................................................... 68
Những kinh quan trọng về THIỀN…………...69
KINH BỐN ĐỊNH ........................................... 69
KINH BẤT ĐOẠN .......................................... 72
KINH NHẬP TỨC XUẤT TỨC NIỆM .......... 78
KINH ĐẠI NIỆM XỨ ..................................... 95
ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT .......................... 116
TIỂU KINH SAKULUDĀYI ........................ 124
ĐẠI KINH MĀLUNKYĀPUTTA ................ 128
KINH SÁU SÁU ............................................ 137
ĐẠI KINH SÁU XỨ ..................................... 148
TIỂU KINH PHƯƠNG QUẢNG .................. 154
KINH TĂNG CHI BỘ, Chương 9 pháp, ....... 165
222
Kinh (I) (32): Chín thứ bậc Thiền chứng (tóm lược) ........................................................... 165
Kinh (II) (33): Chín thứ bậc Thiền chứng (chi tiết) ............................................................. 167
Kinh (III) (34): Niết-bàn là Lạc không được cảm thọ ....................................................... 173
Kinh (IV) (35): Con bò cái hiền trí ............ 178
Kinh (V) (36): Y chỉ các bậc Thiền ........... 184
Kinh (VI) (37): Tôn giả Ānanda ................ 189
Kinh (VII) (38): Các Bà-la-môn ................ 192
Kinh (VIII) (39): Chư thiên và Asura ........ 196
Kinh ( IX) (40) Con voi lớn ....................... 200
Kinh (X) (41): Tapussa (Vượt 9 bậc thiền) 203
MỤC LỤC……………………………………220
HẾT



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 1802)
Trong bước đầu học Phật, chúng tôi thường gặp nhiều trở ngại lớn về vấn-đề danh-từ. Vì trong kinh sách tiếng Việt thường dùng lẫn lộn các chữ Việt, chữ Hán-Việt, chữ Pali, chữ Sanscrit, khi thì phiên âm, khi thì dịch nghĩa. Các địa-danh và nhân-danh[1] không được đồng nhứt. Về thời-gian, nơi chốn và nhiều câu chuyện trong sự tích đức Phật cũng có nhiều thuyết khác nhau làm cho người học Phật khó ghi nhận được diễn tiến cuộc đời đức Phật.
08/04/2013(Xem: 13184)
Hành Trình Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới Tại Việt Nam MC: Lâm Ánh Ngọc Đạo diễn: Điệp Văn Hanh Trinh Phat Ngoc Hoa Binh The Gioi Tai Viet Nam MC: Lam Anh Ngoc Dao dien: Diep Van
08/04/2013(Xem: 3275)
Ðức Phật dạy chúng ta rằng: Tất cả những sự vật trong vũ trụ này, vật lớn như mặt trời, mặt trăng, các vì sao v.v... vật nhỏ như ly, bình, giấy, bút v.v... và ngay cả sinh mạng ...
03/04/2013(Xem: 669)
Triết học Phật giáo là một trong những cội rễ khơi nguồn tinh thần dân tộc-nhân văn của con người phương Đông.Vì thế mà nhiều nhà thơ đã tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tác từ những quan điểm nhân sinh của đạo Phật.Trong đó có nhà thơ Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là một trong số cây bút thơ Nôm tiêu biểu của dòng văn học Việt Nam thời Trung đại.Tuy rằng tác phẩm viết về đạo Phật của ông chỉ duy nhất có bài”Vịnh Phật” nhưng đó là bài thơ mang tinh thần Phật giáo sâu sắc và thể hiện cảm quan tinh tế của nhà thơ đối với đạo Phật:
02/03/2013(Xem: 2965)
Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái đầu con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái ghè!" Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái tai con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái rổ sàng gạo." Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái ngà con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái lưỡi cày." Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái vòi con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái cày".
18/01/2013(Xem: 13291)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn -
19/07/2012(Xem: 2686)
1-Đức Phật đã chỉ dạy cho mọi người giáo pháp mang ý nghĩa giá trị và thực tiển theo nguyên lý duyên sinh, nhân quả mà không phải là một giáo điều cứng ngắt. 2-Đức Phật đã chỉ cho mọi người sự hiểu biết chân chính, để không rơi vào vòng si mê tội lỗi mà còn thương yêu bình đẳng mọi người bằng trái tim có hiểu biết. 3-Đức Phật đã chỉ cho mọi người giáo pháp đến để mà thấy, nhằm phát huy tuệ giác của Như Lai mà ban vui cứu khổ không làm tổn hại muôn loài vật. 4-Đức Phật đã chỉ cho mọi người biết cách làm chủ bản thân nhờ thường xuyên kiểm soát thân, miệng, ý thay vì tin có một đấng thần linh thượng đế ban phước giáng họa.
19/06/2012(Xem: 11415)
Những khi mà tâm hồn tôi bị hoang mang và dao động trước những thống khổ của con người do chính con người gây ra, những lúc đó tự nhiên những câu thơ của Bùi Giáng, những câu thơ mà một thời tôi đã từng say sưa đọc lại có dịp sống dậy trong tâm hồn buồn bã của tôi:
18/06/2012(Xem: 6889)
Một thời đức Phật ngự tại vườn Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ. Bấy giờ có một Phạm Thiên Vương ở cõi Trời Phạm, nghĩ rằng: “Chỗ này là thường hữu, chỗ này là thường hằng, chỗ này trường tồn, chỗ này quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào khác nữa, mà có bậc tối thắng, tối diệu, tối thượng”.