Cuộc đời Đức Phật Thích Ca (thơ)

11/09/201318:35(Xem: 28577)
Cuộc đời Đức Phật Thích Ca (thơ)

phatngoc-2011a


Cuộc Đời

Đức Phật Thích Ca

Nam mô Từ phụ Thích Ca

Vì thương sanh chúng hiện ra trên đời

Bạch Ngà báo mộng tuyệt vời

Giáng sanh con quý ra đời Thích Ca

Sống trong gấm lụa nhung là

Con hiền vợ đẹp nhưng mà chẳng yên

Nhân ngày xuất ngoại gieo duyên

Chính mắt thấy cảnh đau thương gian trần

Hoàng cung thê thiếp chẳng cần

Quyết tâm cầu đạo cứu dân an lành

Đêm khuya biệt vợ con lành

Cùng người hầu cận vượt thành ra đi

Ngựa lành luyến chủ ra đi

Trở về cung điện tức thì quy thiên

Thương dân ngộ đạo quy y

Bao năm khổ hạnh tu y thầy bày

Rừng sâu cực xác đêm ngày

Không màng ăn uống thân gầy mòn hao

Quyết tâm cầu đạo trí cao

Quyết tìm nguyên lý làm sao đổi đời

Khổ hạnh chân lý chẳng ngời

Liền tìm phương chước đổi dời lối tu

Ni Liên thiền tắm xong rồi

Bồ Đề gốc cội liền ngồi luyện tu

Bao nhiêu vọng tưởng mê mù

Ma vương quấy nhiễu mỹ nhu gọi mời

Quyết tâm gạt bỏ dục đời

Tham, sân, si quấy lòng thời chẳng nao

Chí thành động đến trời cao

Chư Thiên hộ pháp trên cao hộ trì

Giúp người an ổn tu trì

Khi mưa gió bão rắn thì che thân

Ẩm thực Thiên nữ tiến dâng

Giúp người sức khỏe yên tâm tu hành

Thiền tâm suy xét ngọn ngành

Tìm đường giải thoát cho dân yên lành

Làm sao thoát khổ tử sanh?

Làm sao thoát khỏi bệnh đau sanh già?

Bao nhiêu lý giải trong đầu

Khổ đau nhân loại bởi đâu gây phiền ?

Gốc cây định trí tham thiền

Quyết tâm đắc đạo mới liền rời đây

49 ngày thiền định tại đây

Khổ đau nhân quả hiện bày nhân nguyên

Kim quang muôn đạo soi tâm

Huệ căn tỏa sáng như vừng nhựt quang

Mùa đông xuất hiện mai vàng

Ngài thời đắc đạo hiệu vàng Thích-Ca

Bắt đầu thuyết pháp độ tha

Pháp là Tứ Diệu, Tỳ-kheo năm người

Ác nhân theo muốn hại người

Từ bi hỷ xả khuyên người buông dao

Trở thành phật tử Tỳ-kheo

Tu hành khất thực tạo bao duyên lành

Từ bi thuyết pháp độ sanh

Tình thương Bác ái chúng sanh muôn loài

Tình thương giáo hóa nhân loài :

Hiếu kính cha mẹ,Mến thầy Kính Thiên

Vợ chồng,bạn hữu gieo duyên

Chân thành đối đãi yêu thương làm đầu

Ở đời đừng quá mong cầu

Tùy tâm hỷ xả sống lâu an lành

Tình thương cảm hóa xung quanh

Tu hành tạo phước căn lành gieo duyên

Phật thuyết pháp độ Ưu khuyên :

Gieo trồng hạt giống thiện căn Bồ đề

Hưởng phúc phước báu mọi bề

Phật càng thuyết pháp Tăng về càng đông

Tỳ -kheo lớp lớp sóng dâng

Ngồi nghe Diệu- nghiệp khai thông pháp mầu

Lời Phật thuyết pháp nhiệm mầu

Tình thương bao bọc thấm sâu muôn loài

Voi điên quỳ phục chân Ngài

Hiểu lời Phật nói cảm lòng từ bi

Phật khuyên gạt bỏ sân si

Voi điên khâm phục hiện quy tánh hiền

Phật khuyên sanh chúng mọi miền

Tu hành tinh tấn bỏ niệm sát sanh

Chúng sanh nó cũng như mình

Cũng đau cũng khổ cảm tình như ta

Lấy mình cảm hóa mà ra

Nỗi đau bị ép như ta đó mà

Bao năm cầu đạo xa nhà

Trở về thăm viếng quê nhà song thân

Thích Ca Bộ tộc Quần thần

Mọi người mừng rỡ quây quần bên nhau

Phật thời thuyết pháp thâm sâu

Nào là “Giải thoát” thâm sâu đạo mầu

45 năm thuyết giảng pháp mầu

Diệu Hoa Kinh Pháp nhiệm mầu vô biên

Phật khuyên Đại chúng Thánh Hiền

Sau khi phật diệt chớ quên Kinh này

Hãy nên tuyên nói giảng bày

Tin lời Phật dạy,phước dày vô biên

Pháp Hoa như Phật tại tiền

Kính Kinh như Phật người hiền khéo tu

“Ta là Đại Đấng Trượng Phu”

“Là Vua Vũ Trụ,Là Vua Muôn Loài”

“Diệu Hoa Lời Phật không sai”

“Diệu Hoa Kinh Pháp Vua trong muôn loài”.

Khuyên người chớ có nghĩ sai

Họa kia vô gián,tội lần vô biên

Hãy nên trì tụng chép biên

Cứu mình cứu cả mọi miền chúng sanh

Pháp Hoa Kinh nói rõ rành

Phật tuy diệt độ, như sanh tại tiền.

Con vâng tin nhận lời khuyên

Kinh Hoa Diệu Pháp Linh Thiêng nhiệm mầu.

Kính xin đền đáp ân sâu

Tu hành sao chép nhiệm mầu Pháp Hoa.

Cầu xin truyền bá muôn nhà

Phổ Hiền chứng độ nhà nhà tin theo

Cầu xin phật tử Tỳ -kheo

Ta- bà đắc quả Hằng sa phước điền.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) .

*************************

Đệ tử con tên là Mai Tuệ Trinh, pháp danh là Hiền-Hỷ, thành tâm cúng dường Tam Bảo bài thơ cuộc đời Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật với tất cả lòng thành và cảm xúc của lòng con sau khi con tự tay sao chép Kinh Diệu Pháp Liên Hoa để hồi hướng cho thân mẫu mãn 100 ngày. Cầu xin Phật Pháp trường tồn, cầu mong Đức Phật tại thế cứu khổ chúng sanh, cầu xin Pháp Hoa Kinh Pháp nhiệm mầu độ cho sanh chúng hồi đầu quy y; và xin hồi hướng cho thân phụ, thân mẫu, ông bà Cửu Huyền Thất Tổ của gia đình Hiền Hỷ và Nguyên Ngộ Tâm và Cửu Huyền Thất Tổ của tất cả Phật tử đã qua đời vãng sanh Lạc Quốc, còn tại thế thân tâm an lạc nghiệp chướng tiêu trừ nhờ hồng phước của Ơn Trên vĩnh lìa khổ ách sớm đắc đạo quả.

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 13196)
Hành Trình Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới Tại Việt Nam MC: Lâm Ánh Ngọc Đạo diễn: Điệp Văn Hanh Trinh Phat Ngoc Hoa Binh The Gioi Tai Viet Nam MC: Lam Anh Ngoc Dao dien: Diep Van
08/04/2013(Xem: 3277)
Ðức Phật dạy chúng ta rằng: Tất cả những sự vật trong vũ trụ này, vật lớn như mặt trời, mặt trăng, các vì sao v.v... vật nhỏ như ly, bình, giấy, bút v.v... và ngay cả sinh mạng ...
03/04/2013(Xem: 677)
Triết học Phật giáo là một trong những cội rễ khơi nguồn tinh thần dân tộc-nhân văn của con người phương Đông.Vì thế mà nhiều nhà thơ đã tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tác từ những quan điểm nhân sinh của đạo Phật.Trong đó có nhà thơ Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là một trong số cây bút thơ Nôm tiêu biểu của dòng văn học Việt Nam thời Trung đại.Tuy rằng tác phẩm viết về đạo Phật của ông chỉ duy nhất có bài”Vịnh Phật” nhưng đó là bài thơ mang tinh thần Phật giáo sâu sắc và thể hiện cảm quan tinh tế của nhà thơ đối với đạo Phật:
29/03/2013(Xem: 22971)
Trong cuộc sống bon chen vật chất hiện nay, hầu như ai ai cũng nhìn nhận phương pháp Thiền của Phật giáo có khả năng diệt trừ bức xúc và mang đến sự an tịnh trong tâm hồn. Nhưng phần đông người học Thiền chỉ biết sơ qua về cách ngồi kiết già, bán già, sổ tức và tùy tức, chứ người đạt được Sơ thiền thì rất hiếm hoi, vì phần đông chưa biết cách đoạn trừ năm triền cái và cách thực hành năm thiền chi để làm nền tảng cho thiền tập.
02/03/2013(Xem: 2966)
Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái đầu con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái ghè!" Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái tai con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái rổ sàng gạo." Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái ngà con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái lưỡi cày." Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái vòi con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái cày".
18/01/2013(Xem: 13293)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn -
19/07/2012(Xem: 2690)
1-Đức Phật đã chỉ dạy cho mọi người giáo pháp mang ý nghĩa giá trị và thực tiển theo nguyên lý duyên sinh, nhân quả mà không phải là một giáo điều cứng ngắt. 2-Đức Phật đã chỉ cho mọi người sự hiểu biết chân chính, để không rơi vào vòng si mê tội lỗi mà còn thương yêu bình đẳng mọi người bằng trái tim có hiểu biết. 3-Đức Phật đã chỉ cho mọi người giáo pháp đến để mà thấy, nhằm phát huy tuệ giác của Như Lai mà ban vui cứu khổ không làm tổn hại muôn loài vật. 4-Đức Phật đã chỉ cho mọi người biết cách làm chủ bản thân nhờ thường xuyên kiểm soát thân, miệng, ý thay vì tin có một đấng thần linh thượng đế ban phước giáng họa.
19/06/2012(Xem: 11430)
Những khi mà tâm hồn tôi bị hoang mang và dao động trước những thống khổ của con người do chính con người gây ra, những lúc đó tự nhiên những câu thơ của Bùi Giáng, những câu thơ mà một thời tôi đã từng say sưa đọc lại có dịp sống dậy trong tâm hồn buồn bã của tôi:
18/06/2012(Xem: 6914)
Một thời đức Phật ngự tại vườn Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ. Bấy giờ có một Phạm Thiên Vương ở cõi Trời Phạm, nghĩ rằng: “Chỗ này là thường hữu, chỗ này là thường hằng, chỗ này trường tồn, chỗ này quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào khác nữa, mà có bậc tối thắng, tối diệu, tối thượng”.