7. An Unexpected Sight

04/02/201109:24(Xem: 2544)
7. An Unexpected Sight

THE STORYOF BUDDHA
CUỘCĐỜI CỦA ĐỨC PHẬT
NguyênTác: JOHNATHAN LANDAW - Người Dịch: HT. THÍCH TRÍ CHƠN

7. An Unexpected Sight

The King still wanted to be certain that his son would not see anythingon his trip that might disturb his mind. This might make him want to leavethe kingdom and follow the holy life. So the day before the Prince wasabout to travel to the city, the King sent his servants and soldiers outwith this message: "By order of the King! Tomorrow the royal Prince Siddharthawill visit the capital city of Kapilavastu (10). Decorate your houses andthe streets and let everything be colourful in his honour. Let those whoare sick or old or in any way unhealthy stay indoors tomorrow. Nothingshould be seen in the city that is not young and fair and beautiful." Andthen, very gently, the soldiers took all the street beggars and broughtthem to a part of the city where the Prince would not visit.

When morning came, the charioteer Channa (11) groomed the Prince's favouritehorse, Kantaka (12), and drove out through the palace gates with his royalpassenger.

It was the first time the Prince had seen Kapilavastu since he was a smallchild, and it was the first time that most of the citizens of the cityhad ever seen their Prince. Everyone was excited and lined the newly decoratedstreets to catch a glimpse of the handsome young man as he rode by.

“Howtall and good looking he is! “they said to one anorther. How bright hiseyes and his brow! We are indeed fortunate that someday he will be ourking."

And the Prince, too, was delighted. The city was sparkling and clean andeverywhere he saw people laughing and cheering and even dancing. The streetswhere he rode were covered with the flower petals the citizens joyouslythrew towards the beloved Prince. "The song was true," he remembered happily."This is indeed a golden, beautiful and wondrous city!"

But as the Prince and his charioteer were riding by they spotted an old,bent, sad-looking person among the joyous crowd. Curious-for the Princehad never seen anything like this before-he turned and asked, "Channa,who is that person over there? Why is he stooping over and not dancinglike the others? Why is his face not smooth and shining like everyone else's;why is it pale and wrinkled? Why is he so different from the others?"

And Channa pointed to that man who remained unseen by everyone else, andanswered the Prince, "Why Sir, that is just an old man."

"Old?" the Prince questioned. "Was this man always 'old' like this before,or did it happen to him recently?"

"Neither, O Prince," Channa answered. "Many years ago that wrinkled manbefore you was young and strong as all the others you see here today. Butslowly he lost his strength. His body became bent, the colour faded fromhis cheeks, he lost most of his teeth, and now he appears the way he does."

Surprised and saddened, Siddhartha asked again, "That poor man, is he theonly one suffering the weaknesses of old age? Or are there any others likehim?"

"Surely you know, O Prince, that everyone must experience old age. You,me, your wife Yasodhara, Rahula, everyone at the palace-we are all growingolder every moment. Someday most of us will look like that man."

These words so shocked the gentle Prince that for a long time he remainedspeechless. He looked like a person who had just been frightened by a suddenlightning flash. Finally he regained his voice and spoke, "O Channa, Ihave seen something today that I never expected to see. In the midst ofall these happy young people this vision of old age frightens me. Turnthe chariot back to the palace; all my enjoyment of this trip has fled.Turn back; I wish to see no more."

Channa did as commanded. When they arrived back home, the Prince enteredhis palace without greeting anyone, hurried upstairs to his own room, andsat by himself for a long time. Everyone noticed how strangely he actedand tried hard to cheer him up. But nothing helped. At dinner he did nottouch any of his food, even though the chef prepared his favourited meal.He paid no attention to the music and dancing, but sat by himself thinking,"Old age, old age, old age..."

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/10/2010(Xem: 3115)
Ngài luôn luôn cổ súy tinh thần tự lực của mỗi người để tìm lấy sự giải thoát cho chính mình và điều này như là một sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật...
30/09/2010(Xem: 4077)
Tiếng Phạn Sarìra, PàliSarìra có nghĩa làtử thi, di cốt:dịch ý là thể, thân, thân cốt, di thân.Thông thường xá lợi dùng để chỉ cho di cốt của Phật, nên gọi là Phật cốthay Phật xá lợi.Chữ này về sau cũng dùng để chỉ cho phần xương đầu của các bậc cao tăng sau khi viên tịch hỏa thiêu còn lại. Hơn nữa, bảo tháp dùng để tôn trí xá lợi của Phật gọi làTháp xá lợi; nơi an tri bình xá lợi của Phật gọi là Bình xá lợi; Pháp hội cúng dường xá lợi Phật gọi làHội xá lợi.
29/09/2010(Xem: 7018)
Ngoài việc nói pháp đúng đối tượng nghe, Thế Tôn còn nói pháp đúng thời và đúng chỗ, khiến cho tác dụng của thời pháp được tăng thêm hiệu quả.
25/09/2010(Xem: 12289)
Theo lời đức Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật chỉ dạy trong kinh A Di Đà, cách thế giới Ta-Bà của chúng ta 10 muôn ức cõi Phật về hướng Tây rất xa, có một thế giới tên là Cực Lạc, Đức Phật giáo chủ cõi đó làPhật A-Di-Đà hiện đang thuyết pháp độ sanh. Đức Phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi LạcBang, oai đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻchúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ.
22/09/2010(Xem: 23323)
Cuộchành trình miên viễn của kiếp sống trầm luân sáu nẻo luân hồi đã thôithúc rất nhiều người đi tìm những phương pháp để thoát ly khổ não. Hạnh phúc và khổ đau là hai thực trạng của cuộc sống mà con người luôn đề cập tới. Nhưng để biết được hạnh phúc là gì thì con người phải trực nhận ra được bản chất của khổ đau như thế nào rồi mới bàn tới phương pháp giải quyết khổ đau... Sau khi nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, đức Phật dùng tri kiến thanh tịnh quan sát khắp cả thế giới. Bằng tuệ nhãn, Ngài thấy chúng sanh có nhiều căn tánh bất đồng...
17/09/2010(Xem: 6604)
Trung đạo (madhyamŒ-pratipad) là con đường tránh xa hai cực đoan: hưởng thọ dục vọng và tu tập khổ hạnh, nó là kinh nghiệm rút ra từ bản thân của Ngài, sau khi sống hưởng thụ trong hoàng cung, và trải qua 6 năm tu khổ hạnh, nhờ con đường này mà Ngài thành đạt giác ngộ và giải thoát dưới cội cây Bồ đề.
17/09/2010(Xem: 3185)
Sau khi Thái tử Tất-Đạt-Đa đản sinh, vua cha Tịnh-Phạn triệu tập các vị tinh thông tướng số đến tiên đoán vận mệnh cho Thái tử. Các vị xem tướng xong, đồng tâu lên rằng: “Thái tử có đủ 32 tướng tốt của một Bậc Đại nhân, thật hiếm có trên đời.Đây là những dấu hiệu báo trước Ngài sẽ là Bậc vĩ nhân đệ nhất trong thiên hạ. Nếu Ngài làm vua, sẽ là vị Chuyển luân Thánh vương; nếu xuất gia tu hành, Ngài sẽ là Bậc Đại Giác Ngộ”... Kinh Phạm Võng Trường Bộ tập I, Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, thân của Như-Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt.
10/09/2010(Xem: 78668)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
28/08/2010(Xem: 81866)
Quyển 6 • Buổi Pháp Thoại Trên Đỉnh Cao Linh Thứu (Gijjhakūṭa) • Ruộng Phước • Tuệ Phân Tích Của Tôn Giả Sāriputta • MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI CHÍN (Năm 569 trước TL)- Mỹ Nhân Giá Mấy Xu? • Chuyện Cô Sirimā • Móc Cho Con Mắt Đẹp • Ngạ Quỷ Mình Trăn • Cùng Một Nguyên Lý • “Hớt” Phước Của Người Nghèo! • Ghi chú đặc biệt về hạ thứ 19: • MÙA AN CƯ THỨ HAI MƯƠI (Năm 568 trước TL)-Phước Cho Quả Hiện Tại • Bảy Thánh Sản • Chuyện Kể Về Cõi Trời • Hóa Độ Gia Đình Thợ Săn • Nhân Duyên Quá Khứ
28/08/2010(Xem: 3584)
Cuộc đời của Đức Phật, từ khi Đản sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, độ sanh, cho tới khi nhập Niết Bàn, tất cả hành động của Ngài đều là những bài học vô cùng giá trị cho nhân thế. Đức Thế Tôn từng tuyên bố: “Nầy các Tỳ kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ dạy hai điều: là sự khổ và con đường đưa đến diệt khổ” (Trung Bộ Kinh III), Đức Phật cũng đã dạy rằng: “Như Lai ra đời vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc cho đời, vì an lạc cho chư Thiên và loài người” (Trường Bộ kinh II).