Lịch Sử Đức Phật Thích Ca

24/01/201213:00(Xem: 21397)
Lịch Sử Đức Phật Thích Ca
LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA
HT Thích Minh Châu soạn


lichsuducphatthichca_htminhchau

Mục Lục

Lời Nói Đầu

1. Thái tử Tất Đạt Đa Ra Đời

2. Đạo sĩ A Tư Đà Và Thái tử

3. Cuộc Sống Của Thái Tử Trong Thời Niên Thiếu

4. Quyết Tâm Xuất Gia Tầm Đạo

5. Sự Từ Bỏ Vĩ Đại

6. Đến Học Hai Đạo Sĩ Alara Kalama Và Uddaka Ramaputta

7. Tu Khổ Hạnh Sáu Năm

8. Chứng Ngộ Chân lý Tối Hậu

9. Đức Phật Do Dự Trước Khi Chuyển Bánh Xe Pháp

10. Đức Phật Giảng Pháp Đầu Tiên Tại Vườn Nai, Gần Thành Ba La Nại (Benares)

11. Nội Dung Kinh Chuyển Bánh Xe Pháp

12. Đức Phật Giác Ngộ Cho Yasa Và Những Người Bạn Của Yasa

13. Đoàn Tăng Sĩ Thuyết Pháp Đầu Tiên

14. Giác ngộ Cho Ba Mươi Thanh Niên

15. Ba Anh Em Ông Kassapa (Ca Diếp) Được Giác ngộ

16. Sariputta (Xá Lợi Phất) Và Moggalana (Mục Kiền Liên) Trở Thành Hai Đệ Tử Hàng Đầu Của Đức Phật

17. Đức Phật Về Thăm Gia Đình

18. Đức Phật Và Phụ Vương Suddhodana

19. Đức Phật Và Công chúa Yasodhara (Da Du Đà La)

20. Đức Phật Và Rahula (La Hầu La)

21. Đức Phật Và Bà Dì Mẫu Pajapati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề)

22. Đức Phật Và Tôn giả Ananda

23. Đức Phật Và Devadatta (Đề Bà Đạt Đa)

24. Đức Phật Và Trưởng Giả Cấp Cô Độc (Anàthapindika)

25. Sự Nghiệp Giáo Hóa Và Thuyết Pháp Của Đức Phật – Tục Lệ An cư Kiết Hạ

26. Đức Phật Và Vua Pasenadi Xứ Kosala

27. Đức Phật Và Nữ Thí Chủ Visakha

28. Đức Phật Và Vua Bimbisara

29. Đức Phật Và Tướng Cướp Angulimala

30. Đức Phật Và Kỹ Nữ Ambapali

31. Đức Phật Tuyên Bố Sẽ Nhập Niết Bàn

32. Buổi Ăn Cuối Cùng Của Đức Phật

33. Cách Tốt Đẹp Nhất Để Tôn Trọng, Đảnh Lễ, Tán Thán, Quý Mến Như Lai

34. Bốn Địa Điểm Chiêm Bái

35. Đức Phật Hóa Độ Cho Người Cuối Cùng: Du Sĩ Subhadda

36. Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

37. Lễ Trà Tỳ Và Sự Phân Chia Xá Lợi Của Phật (20)

Kết luận

Lời Nói Đầu

Lịchsử Đức Phật Thích Ca là lịch sử một con người, nhờ công phu tu tập bản thân, đã trở thành một con người hoàn thiện, một bậc Thánh giữa thế gian; “Con người vĩ đại nhất sinh ra ở đời này” nếu dùng lại lời của nhàthi hào Ấn Độ Tagore.

Bằngcuộc đời của Ngài, và bằng những lời dạy của Ngài được kế tập lại trongba tạng kinh điển, đức Phật đã khai thị cho loài Người biết rằng, bất cứ một người nào, với sự nỗ lực của bản thân, đều có thể vươn lên tới đỉnh cao nhất của Giác ngộ và Giải thoát, như chính đức Phật vậy.

Có thể nói, không có một Tôn giáo nào, một hệ tư tưởng nào đề cao con ngườivà đặt niềm tin vào con người như là đạo Phật. Tính nhân bản tuyệt vời của đạo Phật chính là ở chỗ đó.

Tránhmọi điều ác, làm mọi điều lành, gội sạch nội tâm để trở thành bậc thánh, một con người hoàn thiện, về đức hạnh và Trí tuệ, mỗi người chúngta đều có khả năng và bổn phận thực hiện lời dạy đó, bức thông điệp đó mà đức Phật đã trao cho loài Người chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Đó là ý nghĩa chân chính của nhân sinh, giá trị chân thực của cuộc sống. Không thể có ý nghĩa nhân sinh nào cao quý hơn, khích lệ hơn đối với cuộc sống của chúng ta hiện nay.

Chúngtôi từ lâu vẫn cho rằng đời sống của đức Phật Thích Ca, trong nét đại cương cũng như chi tiết, đều thể hiện và truyền đạt một cách vô cùng sinh động lời dạy đó của đức Phật. Tin tưởng ở đức Phật, đảnh lễ Ngài vàniệm danh hiệu Ngài, chủ yếu là để học tập Ngài về cả hai mặt đức hạnh và Trí tuệ, dù chỉ là trong muôn một. Người nào tuy ở xa Phật, nhưng sống có giới hạnh, theo lời Phật dạy, thì cũng như sống gần Phật. Người nào tuy sống bên cạnh Phật, nhưng sống không có giới hạnh, thì cũng không khác gì ở cách xa Phật muôn trùng.

Nhữngngười Phật tử Việt Nam chúng ta, tuy sống cách thời đức Phật 2.500 năm,nhưng hãy giữ vững niềm tin rằng chúng ta vẫn sống bên cạnh đức Phật nếu chúng ta sống có giới hạnh, theo đúng lời dạy trong con đường đạo tám nhánh (Bát chánh đạo).

Sốngtrong vũ trụ này, được làm người là chuyện khó. Đức Phật nói rằng được làm người khó như một con rùa chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lênkhỏi mặt biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Đông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến phương khác. Được làm người cũng khó như con rùa chột mắt đó muốn chui qua được lỗ nhỏ của khúc gỗ như thế. Trong kinh Tương Ưng V, đức Phật đã dạy: “Ví như, này các Tỳ kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần. Các người nghĩ thế nào, này các Tỳkheo. Con rùa ấy, sau mỗi trăm năm, nổi lên một lần, có thể chui cổ vàokhúc cây có một lỗ hổng hay không?”.

- “Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài”.

- “Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỳ kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có lỗ hổng ấy. Còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ, để được làm người trở lại. Vì cớ sao? Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỳ kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có kẻ yếu bị ăn thịt...” (Tương Ưng V, 485).

“Thậtkhó được vậy, này các Tỳ kheo. Là được làm người. Thật khó được vậy. này các Tỳ kheo, là được Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh đẳng giác, thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là Pháp và Luật này do Thế Tôn thuyết giảng, chiếu sáng trên đời...” (Tương Ưng V, 459 - 460).

ĐứcPhật xuất hiện ở đời cũng là chuyện khó như thế. Pháp và Luật được đức Phật truyền bá ở đời cũng là chuyện khó như thế. Chúng ta có ba cái may mắn hiếm có là được sống làm người, được biết đức Phật Thích Ca và pháp,luật do đức Phật dạy, ấy thế mà chúng ta không biết tranh thủ tối đa bacái may mắn đó hay sao? Chúng ta lại có thể sống không giới hạnh, trái với lời Phật dạy, để rồi bị nghiệp ác lôi cuốn vào những cõi sống khác thấp hơn, khổ hơn cõi người, và cuối cùng phải phấn đấu trở lại làm người như con rùa chột mắt trong câu chuyện ví dụ của đức Phật hay sao?

Rấtmong quý vị Phật tử suy ngẫm về bài học của lịch sử đức Phật, về ảnh dụcon rùa chột mắt chơi vơi trên đại dương, về ý nghĩa của nhân sinh, về giá trị chân thật của cuộc sống, về cuộc sống hiện thực hiện nay cả mỗi chúng ta, làm sao để cho cuộc sống đó thực sự an lạc, hướng thượng, lợi cho mình, lợi cho người, lợi cho đời, lợi cho Đạo.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tỳ kheo Thích Minh Châu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 1867)
Trong bước đầu học Phật, chúng tôi thường gặp nhiều trở ngại lớn về vấn-đề danh-từ. Vì trong kinh sách tiếng Việt thường dùng lẫn lộn các chữ Việt, chữ Hán-Việt, chữ Pali, chữ Sanscrit, khi thì phiên âm, khi thì dịch nghĩa. Các địa-danh và nhân-danh[1] không được đồng nhứt. Về thời-gian, nơi chốn và nhiều câu chuyện trong sự tích đức Phật cũng có nhiều thuyết khác nhau làm cho người học Phật khó ghi nhận được diễn tiến cuộc đời đức Phật.
08/04/2013(Xem: 13186)
Hành Trình Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới Tại Việt Nam MC: Lâm Ánh Ngọc Đạo diễn: Điệp Văn Hanh Trinh Phat Ngoc Hoa Binh The Gioi Tai Viet Nam MC: Lam Anh Ngoc Dao dien: Diep Van
08/04/2013(Xem: 3276)
Ðức Phật dạy chúng ta rằng: Tất cả những sự vật trong vũ trụ này, vật lớn như mặt trời, mặt trăng, các vì sao v.v... vật nhỏ như ly, bình, giấy, bút v.v... và ngay cả sinh mạng ...
03/04/2013(Xem: 672)
Triết học Phật giáo là một trong những cội rễ khơi nguồn tinh thần dân tộc-nhân văn của con người phương Đông.Vì thế mà nhiều nhà thơ đã tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tác từ những quan điểm nhân sinh của đạo Phật.Trong đó có nhà thơ Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là một trong số cây bút thơ Nôm tiêu biểu của dòng văn học Việt Nam thời Trung đại.Tuy rằng tác phẩm viết về đạo Phật của ông chỉ duy nhất có bài”Vịnh Phật” nhưng đó là bài thơ mang tinh thần Phật giáo sâu sắc và thể hiện cảm quan tinh tế của nhà thơ đối với đạo Phật:
29/03/2013(Xem: 22873)
Trong cuộc sống bon chen vật chất hiện nay, hầu như ai ai cũng nhìn nhận phương pháp Thiền của Phật giáo có khả năng diệt trừ bức xúc và mang đến sự an tịnh trong tâm hồn. Nhưng phần đông người học Thiền chỉ biết sơ qua về cách ngồi kiết già, bán già, sổ tức và tùy tức, chứ người đạt được Sơ thiền thì rất hiếm hoi, vì phần đông chưa biết cách đoạn trừ năm triền cái và cách thực hành năm thiền chi để làm nền tảng cho thiền tập.
02/03/2013(Xem: 2966)
Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái đầu con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái ghè!" Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái tai con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái rổ sàng gạo." Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái ngà con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái lưỡi cày." Này các Tỷ-kheo, những ai được sờ cái vòi con voi, họ nói như sau: "Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái cày".
18/01/2013(Xem: 13293)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn -
19/07/2012(Xem: 2687)
1-Đức Phật đã chỉ dạy cho mọi người giáo pháp mang ý nghĩa giá trị và thực tiển theo nguyên lý duyên sinh, nhân quả mà không phải là một giáo điều cứng ngắt. 2-Đức Phật đã chỉ cho mọi người sự hiểu biết chân chính, để không rơi vào vòng si mê tội lỗi mà còn thương yêu bình đẳng mọi người bằng trái tim có hiểu biết. 3-Đức Phật đã chỉ cho mọi người giáo pháp đến để mà thấy, nhằm phát huy tuệ giác của Như Lai mà ban vui cứu khổ không làm tổn hại muôn loài vật. 4-Đức Phật đã chỉ cho mọi người biết cách làm chủ bản thân nhờ thường xuyên kiểm soát thân, miệng, ý thay vì tin có một đấng thần linh thượng đế ban phước giáng họa.
19/06/2012(Xem: 11420)
Những khi mà tâm hồn tôi bị hoang mang và dao động trước những thống khổ của con người do chính con người gây ra, những lúc đó tự nhiên những câu thơ của Bùi Giáng, những câu thơ mà một thời tôi đã từng say sưa đọc lại có dịp sống dậy trong tâm hồn buồn bã của tôi: