01-Ðạo Phật

28/01/201109:41(Xem: 11746)
01-Ðạo Phật

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

ĐẠOPHẬT

I.-MỞÐỀ

Chúngsanhđang chìm đắm trong biển khổ sanh tử, dong thuyền racứu vớt họ là sự ra đời của đạo Phật. Ðêm tối vôminh che phủ tất cả chúng sanh, cầm đuốc sáng soi đườngcho họ là trách nhiệm của đạo Phật. Ðạo Phật đến vớichúng sanh trong một niềm khát vọng vô biên, một sự trôngchờ tột độ. Nhưng, con thuyền có giá trị cứu mạng khinào người sắp chết chìm biết bám lấy nó. Ngọn đuốclà một cứu tinh, khi nào những kẻ lạc đường trong đêmtối khao khát muốn ra. Con thuyền và ngọn đuốc sẽ vô bổ,nếu những kẻ sắp chết chìm và người lạc trong đêm tốichấp nhận cái gì mình đang chịu. Cũng thế, đạo Phật sẽvô ích với những chúng sanh chấp nhận sanh tử và an phậntrong vô minh. Vì thế, đạo Phật có mặt trên thế giới nàyđã hơn hai ngàn năm trăm năm, còn biết bao nhiêu người nhìnnó với cặp mắt xa lạ. Song những kẻ đã nếm được phápvị, thấy công đức của đạo Phật đối với mình vô vànkhông sao kể hết. Thật đúng với câu "Phật hóa hữu duyênnhân".

II.-ÐỊNH NGHĨA

Ðứngvề hành động, đạo Phật là con đường đưa người trởvề cố hương giác ngộ. Hoặc đạo Phật là phương phápgiúp người tiến tu đến giác ngộ. Ðứng về thực thể,đạo Phật là tánh giác sẵn có của tất cả chúng sanh.

Nhữngkẻ phiêu lưu ở tha phương viễn xứ ước mơ khao khát trởvề cố hương, đạo Phật là tấm bản đồ vẽ rõ con đườngtrở về cố hương, do bàn tay của người đồng cảnh ngộđã trở về đến tận quê nhà, đức Thích-ca Mâu-ni. Nếuý thức được cảnh khổ của người xa quê, một lòng quyếtchí trở về cố hương được người trao tay cho tấm bảnđồ, biết rõ con đường về quê thì còn sung sướng nàohơn. Không cam chìm sâu trong đêm tối vô minh, người cươngquyết tiến lên con đường giác ngộ, nắm vững những phươngtiện tiến tu, chắc chắn sớm chiều sẽ được mãn nguyện.

Ðứngtrên bờ biển thấy toàn biển đều là sóng, bởi cơn giómạnh, người ta ngơ ngác không biết làm sao tìm ra nước biển.Nếu đây là sóng thì nước biển ở đâu ? Những lượn sóngđuổi nhau lặn hụp hò hét ầm ì, mặt biển là những cáibiến động ấy sao? Người sáng suốt nghe thế, bảo họ rằng:"Chính sóng ấy tức là nước", "cái biến động kia chỉ làhiện tượng của mặt biển tĩnh lặng". Hãy ngay nơi sóng,chúng ta nhận ra nước, trên cái biến động biết đượcthể tịnh. Hiện tướng vô minh và tánh giác cũng thế.

Tấtcả những vọng tưởng điên đảo là hiện tướng vô minh,vọng tưởng lặng lẽ là tánh giác thanh tịnh.

Tuyhai tên hai tướng khác nhau, song không thể rời vô minh tìmđược tánh giác, như sóng với nước. Tánh giác là cái thểchẳng sanh chẳng diệt của mỗi con người chúng ta, hằngtàng ẩn trong con người vô thường sanh diệt này, như thểtĩnh lặng của mặt biển sẵn có trên tướng biến độngầm ì. Bởi chúng sanh sẵn có tánh giác mà quên, nên đứcThích-ca thương xót giáo hóa chỉ dạy cho thức tỉnh, đólà đạo Phật.

Chủyếu của đạo Phật là giác ngộ, nên được biểu trưngbằng phóng quang, ngọc minh châu, cây đuốc, ngọn đèn. Nóiđến đạo Phật là nói đến giác ngộ; mọi hình thức mêtín hiện có trong đạo Phật, do người sau ứng dụng sai lầm,chớ không phải thực chất của đạo Phật.

III.-LÝ THUYẾT

Phầnlý thuyết của đạo Phật rất phong phú, nói chung là Tam Tạnggiáo điển, gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận. TamTạng này hiện ấn hành có hai văn hệ: Pali Tạng, Hán Tạng.Pali Tạng thuộc Nam truyền Phật giáo, Hán Tạng thuộc Bắctruyền Phật giáo. Ở đây, chúng tôi nói về hệ thống HánTạng. Bộ Hán Tạng hiện do Nhật Bản và Ðài Loan ấn hànhgồm trên năm ngàn quyển. Thật là một kho tàng văn hóa dồidào, chính những người tu sĩ Phật giáo cũng chưa chắc đãđọc hết. Trong ba Tạng, quan trọng nhất là tạng Kinh, vìtạng Luận là giải thích lại tạng Kinh, còn tạng Luật nóirõ về nghi thức luật lệ của người tu. Trong tạng Kinh tổngquát chia làm ba phần : hệ thống A-hàm, hệ thống Bát-nhã,hệ thống Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm. Hệ thống A-hàm giảithích về triết lý vô thường, khổ, không, vô ngã. Hệ thốngBát-nhã giải thích tự tánh các pháp là Không, chỗ tánh Khôngấy là tướng chân thật. Hệ thống Pháp Hoa, Niết-bàn, HoaNghiêm giải thích chúng sanh sẵn có tánh giác gọi là Trítuệ Phật, Tri kiến Phật, Niết-bàn.

Tuynhiên, vì truyền bá lâu xa khó tránh khỏi những tư tưởngtập tục sai lầm chen lẫn trong chánh pháp. Chúng ta muốn phánđịnh chánh tà, trong kinh có dạy dùng Tứ pháp ấn, Tam phápấn, Ðệ nhất pháp ấn để ấn định đúng sai. Tứ phápấn là vô thường, khổ, không, vô ngã. Tất cả những kinhthuộc hệ thống A-hàm nói không ngoài bốn lý này, nếu nóikhác bốn lý này là tà thuyết. Tam pháp ấn là chư hạnh vôthường, chư pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh. Ðây là trùmcả Tiểu thừa lẫn Ðại thừa đều nằm gọn trong ấy. Ðệnhất pháp ấn là nhất tâm chân như. Phần này chỉ riênghệ thống Pháp Hoa..., không can hệ đến hai hệ thống kia.Nắm được cái căn bản này, chúng ta tạm biết cương yếuhọc Phật.

Phầnlý thuyết của đạo Phật khác hẳn với thuyết lý của nhữngtriết gia, học giả khác. Bởi vì họ dùng suy tư nghĩ tưởngbiện thuyết, còn đây do đức Phật sau khi giác ngộ thấylẽ thật như thế, tùy hoàn cảnh trường hợp đem ra chỉdạy cho người. Người khéo ứng dụng lời Phật dạy vàocuộc sống sẽ được kết quả tốt đẹp, hoàn toàn khônghọa hại. Cho nên, trong kinh nói "lời Phật nói trước, giữa,sau đều thiện".

IV.-THỰC HÀNH

?ngdụng phần lý thuyết trên vào cuộc sống hiện tại, sẽđược kết quả tùy theo khả năng phương pháp mình thựchành. Sự thực hành có chia nhiều thứ bậc: Ngũ thừa, Tamthừa, Nhất thừa. Chữ thừa ở đây ví dụ cỗ xe chở ngườiđi. Từ vị trí con người chở đến con người là Nhân thừa.Từ vị trí con người chở đến quả vị chư thiên gọi làThiên thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Thanhvăn gọi là Thanh văn thừa. Từ vị trí con người chở đếnquả vị Duyên giác gọi là Duyên giác thừa. Từ vị trí conngười chở đến quả vị Bồ-tát gọi là Bồ-tát thừa.Ðó gọi là Ngũ thừa. Bỏ hai phần Nhân thừa và Thiên thừacòn lại ba thừa sau gọi là Tam thừa. Từ vị trí con ngườiphàm phu chở thẳng đến quả vị Phật gọi là Phật thừahay Nhất thừa.

Từvị trí con người đến vị trí con người mai hậu là, ứngdụng tu hành Tam qui ngũ giới và những nề nếp sống hiềnlành chân thật của con người. Từ vị trí con người đếnquả vị chư Thiên, ứng dụng pháp Thập Thiện vào đời sốngtu hành và thiền định từ Sơ thiền đến Tứ thiền. Từvị trí con người đến quả vị Thanh văn, ứng dụng phápTứ đế để tu hành. Từ vị trí con người đến quả vịDuyên giác ứng dụng pháp Thập nhị nhân duyên tu hành. Từvị trí con người đến quả vị Bồ-tát ứng dụng pháp Lụcđộ tu hành. Từ vị trí con người phàm phu thẳng đến quảvị Phật ứng dụng phương pháp "tức tâm là Phật" tu hành.Ví như chúng ta muốn đi đến vị trí nào, khi ra bến xe liềntìm xe đi về vị trí ấy leo lên, sẽ đưa chúng ta đi đếnđích như chỗ mong muốn. Ð?o Phật cũng thế, tùy theo sởthích của người mà lập nhiều pháp môn, ưng pháp môn nàoứng dụng tu hành đều kết quả đúng như sở nguyện. Ðólà phương tiện tùy cơ của đức Phật trên phương pháp giáohóa chúng sanh. Nếu nói thẳng bản hoài của Ngài, chỉ muốnchúng sanh thành Phật là mục tiêu duy nhất.

ÐaoPhật truyền sang Trung Quốc lại chia thành nhiều tông phái,mỗi tông phái y cứ trên những bộ Kinh hay Luận làm chủyếu cho sự tu hành. Nếu nói rộng có cả thảy mười tông,nói hẹp theo sự truyền bá hiện tại có bốn tông. Hiệnnay còn bốn tông đang lưu hành là Thiên Thai tông, Thiền tông,Mật tông, Tịnh độ tông. Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởngPhật giáo Trung Quốc, sự lưu hành các tông phái cũng tươngtợ Trung Quốc.

V.-TRUYỀN BÁ

Ởđây nói truyền bá là đi thẳng vào phương pháp, không căncứ trên lịch sử. Những lời dạy của đức Phật đượcgọi là Kinh, bởi hai lý do: hợp lý và hợp cơ. Một chânlý dù cao siêu đến đâu, nếu không ứng dụng được vàocuộc đời, chân lý ấy trở thành không nền tảng, chỉ lơlửng trên không trung. Chân lý không áp dụng được cho ngườisẽ là vô ích. Truyền bá sự vô ích thật là làm một điềuvô nghĩa. Lời Phật dạy đúng chân lý gọi là hợp lý, songlời dạy ấy cũng phải hợp căn cơ trình độ của con ngườiđương thời thì họ ứng dụng mới được. Hợp lý hợpcơ là hai điều kiện không thể thiếu trên phương diện truyềnbá. Nếu chỉ dạy thích hợp sự ưa thích của người màkhông có chân lý sẽ đưa đến mê tín và tội lỗi. Mộttrọng trách của người truyền bá, phải nhận định sángsuốt, để không bị lỗi thời hay sai chân lý. Chính đâylà ý nghĩa "tùy duyên mà bất biến" của tinh thần Ðại thừa.Bất biến là hợp lý, tùy duyên là hợp cơ. Thật là mộthình ảnh linh động đi vào cuộc đời của chánh pháp. Ngườitruyền bá chánh pháp lúc nào cũng linh động mà không sai chânlý. Bởi cuộc đời là một dòng biến thiên, mỗi thời đềumỗi khác, chúng ta không thể mang hình thức cổ lỗ đi vàothời đại văn minh. Làm thế, chỉ chuốc sự chán chê củathiên hạ, không lợi gì cho mình, cho chánh pháp cả. Cũng khôngthể mang hình thức rất hợp thời trang, mà bỏ mất chânlý. Tùy duyên mà bất biến, quả là chân lý ngàn đời củangười đi ra giáo hóa.

Lạinữa, con người sống lúc nào cũng dung hòa giữa tình cảmvà lý trí. Tình cảm là quả tim, lý trí là khối óc. Quảtim và khối óc phải nhịp nhàng hòa điệu thì con ngườimới thanh thản an vui. Nghiêng một bên nào cũng làm mất thăngbằng, khiến con người dễ mất bình thường. Ðạo Phậtmuốn còn mãi trên nhân gian với con người, sự truyền bácũng phải làm thỏa mãn hai phần ấy. Ðể thỏa mãn phầnkhối óc, người truyền bá chánh pháp phải thường giảngdạy Kinh Luận cho Phật tử nghe. Thấm nhuần triết lý caosiêu của Phật giáo, người Phật tử mới khỏi nghi ngờkhi nghe một lý thuyết khác. Sự tu hành vững chãi, cũng nhờhiểu thấu giáo lý siêu thoát của Phật dạy. Giáo lý làngọn đuốc sáng đưa người ra khỏi rừng vô minh u tối.Có sẵn trong tay ngọn đuốc sáng, người Phật tử chắc chắnsẽ thoát khỏi rừng mê. Ðể thỏa mãn con tim, những hìnhthức nghi lễ tán tụng ở nhà chùa, giúp người Phật tửniềm tin được sung mãn. Những buổi lễ tại chùa đều cómang tính chất tín ngưỡng, phổ nhạc trong những lời tụngtán đều là đi thẳng vào tình cảm của con người. Tuy chưahiểu gì về Phật pháp, chỉ đến chùa tụng một thời kinh,người ta cũng thấy lòng được nhẹ nhàng lâng lâng. Hoặcnhững đêm khuya tĩnh mịch, những lời tụng tán thâm trầmhòa với tiếng khánh tiếng mõ nhịp nhàng, khiến người nghetâm hồn dường như bay bổng trên không trung. Tuy nhiên nhưthế, hai phần lý trí và tình cảm đều phải quân bình nhau,lệch một bên đều là khuyết điểm lớn. Nếu chỉ có lýtrí mà thiếu tình cảm trở thành khô khan. Nếu chỉ có tìnhcảm mà thiếu lý trí trở thành mê tín. Người truyền giáophải khéo léo quân bình hai điều này.

VI.-KẾT LUẬN

ÐạoPhật có mặt ở thế giới này đã trên hai mươi lăm thếkỷ, sự truyền bá này quả thật lâu dài. Sở dĩ đượcnhư thế, do Phật giáo là chân lý không lý thuyết nào bẻgãy nổi, người tu hành theo Phật giáo được kết quả lợiích thiết thực không nghi ngờ, phương pháp truyền bá củaPhật giáo rất linh động. Chúng ta hữu duyên hữu phướcmới được gội nhuần chánh pháp, đừng cô phụ phước duyêncủa mình, mỗi chúng ta phải nỗ lực tiến tu. Có thưởngthức được pháp vị rồi, chúng ta mới tùy duyên lợi íchkẻ sau. Làm thế nào cho ngọn đèn chánh pháp nối tiếp mãikhông tắt trên cõi thế gian này. Ðền ơn Phật tổ khônggì hơn cứu độ chúng sanh. Sự cứu độ thực tế nhất,phải ngay cõi đời này, với những người có mặt hiện nay,khiến họ chuyển mọi khổ đau trở thành an lạc. Phật giáokhông phải cái gì xa vời, không phải sự ước mơ viển vông,mà hiện tại thực tế. Nhận định như thế, mới có thểđem đạo Phật vào cuộc đời một cách hữu hiệu.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/12/2013(Xem: 23808)
Nhóm Vi Trần vừa hoàn tất xong bộ Danh mục Đại Tạng Phật giáo Tây Tạng: Kangyur-Tengyur khoảng trên 5000 tên các tác phẩm Kinh Luận thuộc về truyền thừa Nalanda Danh mục bao gồm 4 ngôn ngữ Tạng - Phạn (dạng Latin hóa) - Hoa - Việt Đính kèm là 3 tập tin đã đươc trình bày theo các dạng: 1. Tang-Phạn-Hoa-Việt 2. Phạn-Tạng-Hoa-Việt 3. Hoa-Tạng-Phạn-Viêt
11/12/2013(Xem: 44347)
Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác là con nhà họ Đới ở Châu Ôn . Thuở nhỏ học tập kinh, luận và chuyên ròng về phép Chỉ quán của phái Thiên Thai. Kế, do xem kinh Duy Ma mà tâm địa phát sáng. Tình cờ có học trò của sư Huệ Năng là thầy Huyền Sách hỏi thăm tìm đến. Hai người trò chuyện hăng say.
10/12/2013(Xem: 31241)
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đời của Đức Phật. Chúng ta biết rằng thái tử Siddhattha đã rời bỏ cung điện lộng lẫy của vua cha, để bắt đầu cuộc sống không nhà của người lữ hành lang thang đi tìm con đường tâm linh, và sau nhiều năm tu hành tinh tấn, Ngài đã đạt được giác ngộ khi đang nhập định dưới gốc cây bồ đề. Sau khi xả thiền, Đức Phật đã đi đến thành phố Benares, giờ được gọi là Varanasi. Ở đó, trong Vườn Nai, lần đầu tiên Ngài thuyết pháp về những gì Ngài đã khám phá về con đường đi đến hạnh phúc toàn vẹn. Lời dạy của Đức Phật rất đơn giản nhưng sâu sắc.
07/12/2013(Xem: 33161)
Phật Ngọc, ước nguyện hòa bình thế giới
03/12/2013(Xem: 81700)
Người ta thường nói :"Ăn cơm có canh, tu hành có bạn". Đối với tôi, câu nói này thật là quá đúng. Ngày nhỏ chưa biết gì nhưng từ khi làm Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử tôi đã thấy ích lợi của một Tăng thân. Chúng tôi thường tập trung thành từng nhóm 5,7 người để cùng nhau tu học. Giai đoạn khó khăn nhất là sau 75 ở quê nhà. Vào khoảng 1985, 86 các anh lớn của chúng tôi muốn đưa ra một chương trình tu học cho các Huynh Trưởng trong Ban Hướng Dẫn Tỉnh và những Htr có cấp nên đã tạo ra một lớp học Phật pháp cho các Htr ở Sàigòn và các tỉnh miền Nam. Nói là "lớp học" nhưng các Chúng tự học với nhau, có gì không hiểu thì hỏi quý Thầy, các Anh và kinh sách cũng tự đi tìm lấy mà học. Theo qui định của các Anh, Sàigòn có 1 Chúng và mỗi tỉnh có 1 Chúng. Chúng tu học của chúng tôi (Sàigòn) có tên là Chúng Cổ Pháp và phải thanh toán xong các bộ kinh sau đây trong thời gian tối đa là 3 năm:
16/11/2013(Xem: 36264)
Tên tục của tôi là Trai. Dòng họ xuất thân từ Lan Lăng là hậu duệ của vua Lương Võ Đế. Gia tộc cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam, huyện Tương Lương. Cha tên Ngọc Đường, mẹ tên Nhan Thị. Năm đầu đời nhà Thanh, cha làm quan tại tỉnh Phú Kiến. Năm mậu tuất và kỷ hợi làm quan tại châu Vĩnh Xuân. Cha mẹ đã ngoài bốn mươi mà chưa có mụn con. Mẹ ra ngoài thành nơi chùa Quán Âm mà cầu tự. Bà thấy nóc chùa bị tàn phá hư hoại, lại thấy cầu Đông Quan nơi thành không ai sửa chữa nên phát nguyện trùng hưng kiến lập lại. Đêm nọ, cả cha lẫn mẹ đều nằm mơ thấy một vị mặc áo xanh, tóc dài, trên đỉnh đầu có tượng Bồ Tát Quán Thế Ấm, cưỡi hổ mà đến, nhảy lên trên giường. Mẹ kinh sợ, giật mình thức dậy, liền thọ thai. Cuối năm đó cha đi nhậm chức tại phủ Nguyên Châu.
26/10/2013(Xem: 82887)
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu… Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật, hoặc từ sự tôn kính thuần tín ngưỡng tôn giáo, đủ thể loại, nhiều tầm cỡ, đã có ảnh hưởng sâu xa trong tâm khảm biết bao độc giả, khán giả, khách hành hương chiêm bái và những người yêu thích thưởng ngoạn nghệ thuật.
17/10/2013(Xem: 8532)
Đức Phật chỉ ra rằng: mọi vật có hình tượng, có thể chất đều sinh diệt, thay đổi không ngừng. Sự thay đổi của vạn vật là định luật. Định luật này chi phối mọi lãnh vực cuộc sống, không ràng buộc bởi thời gian, không gian.
17/10/2013(Xem: 49731)
50 năm qua, cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 chống chính quyền Đệ nhất Cọng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã đàn áp Phật giáo. Sự việc đã lui về quá khứ nhưng vết thương trong lòng dân tộc, trong tim của Phật tử Việt Nam thì vẫn còn đó và có lẽ mãi còn trong lịch sử đau thương mà cũng lắm hào hùng.
17/10/2013(Xem: 40748)
Là nhân chứng sống động của lịch sử, của dòng đời, ai cũng thế. Sinh ra giữa cõi trần, có tai phải nghe, có mắt phải thấy, dù muốn nghe, muốn thấy hay không. Sống, có óc phải suy tư, có miệng phải nói, có chân phải đi, có tay phải làm. Nhưng phải biết nên nghĩ gì, nói gì, đi đâu, làm gì ! Sống, có bạn để tâm sự, có con để trao truyền. Tâm sự chuyện gì, trao truyền cái gì? Tôi tự hỏi và trải lòng ra cho ai muốn thấy tim tôi đang nhảy, phổi tôi đang thở và mỗi tế bào sinh diệt trong bất diệt của chân như. Chỉ xin đừng làm bác sĩ giải phẫu chân dung của tôi, nhưng nếu muốn thì cứ.