Tụ Tán Vô Kỳ

04/06/202510:24(Xem: 4155)
Tụ Tán Vô Kỳ

TỤ TÁN VÔ KỲ

 lotus_painting 3

Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ. Kiếp người ở thế gian này trong vòng trăm năm, tuy nhiên thật sự “sống” chỉ vài mươi năm, còn lại phần lớn là thời gian của tượng hình, trẻ nít, bệnh tật, già nua… Có không ít người càng kéo dài tuổi thọ lại càng đau khổ: Đau khổ vì thể xác và cả tinh thần, sống không xong chết không được. Kiếp người ở thế gian này buồn vui lẫn lộn nhưng phần nhiều là buồn hơn vui. Suốt trăm năm ấy sum họp và chia ly cũng khó ai biết trước, sinh ly tử biệt là nỗi đoạn trường ai cũng phải qua. Muốn không được mà không muốn cũng không xong.

Đời có những cuộc sinh ly rất buồn đau. Tô Vũ chăn dê là một tích sinh ly nổi tiếng trong sử Tàu. Vô số thân phận sinh ly vì Nam – Bắc phân tranh thời Trịnh – Nguyễn. Ngay cả cuộc nội chiến Bắc – Nam hiện đại cũng thế, bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình sinh ly suốt mấy mươi năm ròng. Những cuộc sinh ly tuy buồn thảm nhưng vẫn còn le lói cái hy vọng tái ngộ. Còn khi đã tử biệt thì vĩnh viễn phân kỳ. Làm con người ở đời có thể tránh được sinh ly vì phước phần nhưng không ai tránh được tử biệt. Tử biệt là chắc chắn nhất, trên đời không có chi tuyệt đối nhưng cái chết là tuyệt đối. Ai rồi cũng phải chết!

Sinh thời tụ tán, chết lại biệt ly. Vì duyên mà tứ đại và thần thức tụ lại thành người và rồi cũng vì duyên mà tứ đại phân ly, thần thức đi vào một cảnh giới tương ưng với tam nghiệp đã tạo tác. Dòng họ quần tụ, gia đình sum họp, ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh em… gặp nhau một thời gian rồi lại chia ly, ai theo nghiệp nấy. Chẳng có ai mãi mãi bên nhau, dù có thương yêu ra rít, dù có mòn mỏi mong chờ… nhưng một khi duyên tan thì phải chia lìa.

Tụ tán vô kỳ chính là biểu hiện cụ thể của luật vô thường. Phật nói pháp, chỉ ra sự thật của thân, tâm và thế giới. Phật nói cái chân lý (tuyệt đối hay tương đối tùy thuộc vào căn cơ của đối tượng). Phật nói về cái khổ của kiếp người ba khổ, tám khổ, 108 khổ, tám vạn bốn ngàn khổ) khiến nhiều người cho rằng đạo Phật bi quan yếm thế. Sự thật không phải vậy, Phật nói ra hay không nói ra thì ta vẫn khổ. Khi Phật nói ra chẳng vì bi quan mà vì đại bi. Nói sự thật để ta biết, để ta chấp nhận sự thật và theo phương pháp Phật để thoát khổ. Ái biệt ly khổ là một cái khổ tinh thần trong tám khổ. Người ở thế gian này ai cũng chìm đắm tuy nhiên mức độ nặng nhẹ khác nhau. Thương nhau mà sa vào cảnh sinh ly tử biệt thì đau lắm, buồn lắm, buồn đau đến đứt ruột (đoạn trường). Nhân duyên và phước phần như thế thì không thể nào cưỡng lại được.

Hành trình sinh tử tử sinh của mỗi con người đã trải qua vô số lần sinh ly tử biệt, một khi còn sanh tử luân hồi thì ắt còn sinh ly tử biệt, nước mắt còn rơi, nội tâm còn dậy sóng, lòng còn nhiều nỗi “đoạn trường”.

Vì sao mình phải chịu sinh ly tử biệt? vì vô thường là thế, vì nhân duyên tụ tán vô kỳ là thế. Dông dài hơn thì là do tiền nghiệp xấu của mình, ví như đã từng: ly gián, gây chia rẽ, phóng hỏa đốt nhà, phá tổ bắt chim, giết hại sanh linh…Chúng ta chỉ thấy cái hậu quả và chịu đựng cái hậu quả còn cái nguyên nhân thì không làm sao biết được, vì chúng ta mê mờ, vì chúng ta không có ngũ nhãn lục thông.Thế gian này có vô số thảm cảnh sinh ly tử biệt, bởi vậy mà đức Phật từng nói nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển. Thế gian này cũng có nhiều người vì phước báo mà trọn đời sống trong sum họp ấm êm, tuy có tránh được sinh ly nhưng tử biệt thì vô phương, thọ mạng có ngắn dài nhưng cuối cùng cũng đều tử biệt.

Đêm nay, trên con tàu này, gã du tử ngồi trầm ngâm lòng tha thiết vô hạn. Dẫu biết sinh ly tử biệt là lẽ thường, tuy nhiên học Phật không phải để biến mình thành vô tri như gỗ đá. Tâm hồn gã du tử đang dậy sóng, đang nhìn xem và chiêm nghiệm về sự biến hoại, về cái lý tụ tán vô kỳ. Mới ngày nào ba má trẻ trung khỏe mạnh vậy mà giờ suy yếu, bệnh tật hom hem. Mới ngày nào gia đình sum họp đầm ấm, vậy mà giờ anh em chia lìa ly tán xa xôi nghìn trùng. Sinh ly đã và đang trải qua, tử biệt cũng đang đến. Ngoài căn bệnh già nua lão hóa ra trong thân phụ mẫu còn mang những căn bệnh khác nữa. Tiếng tàu xình xịch trong đêm trường, tiếng lòng thổn thức như cứa ruột gan. Dã du tử vận dụng những lời dạy của đức Thế Tôn để ngăn dòng lệ, để tự an cho chính tâm mình. Biết làm sao được? quy luật là thế, không một ai có thể tránh khỏi, cho dù đó là người quyền uy tuyệt đối, giầu sang cực điểm hay là người bần hèn thấp kếm nhất trong xã hội. Ngay cả các vị trời khi phước báo hết thì năm tướng suy hao cũng hiện ra và cũng phải sinh ly tử biệt như thường.

Con tàu rì rầm lao trong bóng đêm cứ như thể chính mình đang miệt mài chạy trên cung đường sanh tử. Con tàu rồi sẽ đến đích và mình rồi thì cũng đến đích cuối cùng. Con tàu có nhà ga để đến còn chúng ta thì có thập pháp giới để đến. Nói thì hay vậy chứ hầu hết chúng ta đều lăn lộn trong vòng tam đồ lục đạo chứ dễ gì thăng được bốn cõi trên. Chỉ có những vị nào tu hành như lý như pháp thì mới có tấm vé về bốn cõi trên. Mấy trăm con người trên chuyến tàu đêm này, chí ít cũng có chung một quãng thời gian cộng nghiệp trên con tàu. Cùng là hành khách, cùng đi về ga cuối nhưng có người đang đi dến gặp gỡ sum họp, có người lại đang trên bước đường sinh ly… Mỗi quãng đường đi qua, nỗi buồn và niềm vui của những hành khách trên tàu cũng biến động theo thọ nhận và tưởng.

Bản thân con tàu cũng là một sự tụ hợp của vô số nhân, nào là: sắt, thép, kiếng, cao su, sức người, lửa…Con Tàu ngày đêm ngược xuôi trên con dường ngàn dặm. Con tàu cũng hư hao hỏng hóc như con người bệnh tật suy hao. Con tàu rồi cũng sẽ hết hạn sử dụng như con người già nua suy kiệt. Tụ đấy rồi tán đấy, thế gian này tất cả đều tụ tán vô kỳ, vì duyên mà tụ thì cũng vì duyên mà tán. Con tàu và hệ thống nhà ga, đường sắt xứ mình còn ngái ngủ ở thế kỷ 19, vô cùng cũ kỷ, ọp ẹp, dơ dáy, lạc hậu…Có lẽ vì phước phần như thế, nghiệp như thế, nhân duyên quả báo như thế tương ưng với nhau. Chánh báo và y báo tương ưng với nhau. Người Âu – Mỹ, Người Hàn, Nhật, Singapore…có phước báo lớn hơn nên sống trong môi trường giàu có, xã hội văn minh, chính trị minh bạch, dân chủ - tuj do, kinh tế và khoa học phát triển cao độ, môi trường tự nhiên tươi tốt… nên họ hưởng được nhiều phúc lợi lớn. Tuy nhiên cái khổ về sinh ly tử biệt thì chẳng thể nào tránh được. Sinh ly tử biệt là cái khổ của kiếp người, biết để mà tự mình an, biết để mà chấp nhận cái sự thật, biết để mà khỏi phải sốc hay quá bất ngờ. Sinh ly tử biệt là một phần trong đời sống của mỗi con người. Sinh ly tử biệt là sự vô thường vẫn thường trực trong từng phút giây.

Tiểu Lục Thần Phong

Sài Gòn, 0625

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/07/2011(Xem: 23817)
Mùa Vu Lan lại về, tôi bồi hồi xúc động. Ai cũng có một người mẹ trong trái tim. Sương mù và mưa ngâu. Nhớ thương và xót xa một cái gì đã mất.
30/07/2011(Xem: 29172)
Tiếng chuông chùa mãi ngân vang, vào lúc buổi bình minh vừa thức giấc hay lúc chiều về, đem theo âm thanh ấm cúng, chan chứa tâm tình, lan rộng ra khắp không gian. Từ bao đời qua, tiếng chuông chùa trở thành nề nếp đẹp của văn hoá tâm linh cho mọi người, với nhịp khoan thai, nhịp nhàng, trong âm vang như chứa những niềm vui, hỷ lạc, một tấm lòng nào đó, khó diễn tả được.
27/07/2011(Xem: 15867)
Tiếp theo hai tập, Nhận thức và Không tánh (2001) và Tánh khởi và Duyên khởi (2003), sách Nhân quả đồng thời lần này thu góp các bài học Phật luận cứu các vấn đề Tồn tại và Thời gian, Ngôn ngữ, Giáo nghĩa, và Giải hành liên quan đến nguyên lý Duyên khởi mà Bồ tát Long Thọ nêu lên trong bài tụng tán khởi của Trung luận, bản tiếng Phạn. Các vấn đề này được tiếp cận từ hai phía, bản thể luận và triết học ngôn ngữ, và được trình bày trong ba Phần: (1) Vô thường, Duyên khởi, và Không tánh, (2) Phân biệt, Ngôn ngữ, và Tu chứng, (3) Tín, Giải, Hành, Chứng trong Hoa nghiêm. Toàn bộ bản văn quyển sách để in PDF (7,1 MB)
27/07/2011(Xem: 18437)
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của Đại Sư Thật Hiền, Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng bất tiếu ngu hèn, khóc ra lệ máu cúi đầu kính lạy, đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền, cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời. Cúi mong quý vị thương xót, lưu ý một chút mà nghe và xét cho.
27/07/2011(Xem: 15050)
Hỏi: Tại sao đạo Phật lại đề xướng ăn chay? Đáp:Người ăn chay thì dục niệm nhẹ. Kẻ ăn mặn thì dục niệm nặng nề. Có tôn giáo cho rằng động vật được sanh ra là để cho loài người ăn, cho nên ăn mặn là một việc hợp lý trời đất. Song le, Phật Giáo đề xướng tinh thần "mọi vật đều cùng một thể, đó gọi là Đại Bi," và xem mọi loài chúng sanh đều có Phật-tánh, đều sẽ thành Phật; cho nên chủ trương giới sát, phóng sanh.
27/07/2011(Xem: 18421)
Mỗi người đều có nhân quả báo ứng của riêng mình. Hễ tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó. Không những chỉ có loài người là phải chịu quả báo mà tất cả chúng sanh cũng vậy; tạo nghiệp từ xưa, ngày nay gặt quả. Điều đó không dễ hiểu đâu. Ví như bị đọa làm súc sinh hoặc ở nơi ác đạo thì rất khó khôi phục lại thân người; nên nói rằng:
26/07/2011(Xem: 14899)
Quyển “MỚI VÀO CỔNG CHÙA” ra đời trước, chúng tôi hướng dẫn độc giả vừa mới làm quen với mùi tương dưa, còn ngỡ ngàng khi bước chân vào cổng chùa. Đến quyển “VÀO CỔNG CHÙA”, chúng tôi nhắm đến những độc giả đã quen thuộc với những chiếc mái vốn cong, từng nghe tiếng mộc ngư nhịp đều buổi tối và tiếng chày kình ngân nga buổi khuya. Tuy nhiên vẫn còn là khách thấy nghe thân cận nhà chùa, chưa phải là người sống trong chùa.
24/07/2011(Xem: 16825)
Ngày nay, việc tổ chức đám cưới tại chùa có lẽ không mấy ai còn cho là lạ, nhưng đây là điều đã được mong muốn từ nửa thế kỷ trước, mà Ni trưởng trụ trì chùa Phước Hải hiện nay – ngày đó là sư cô Tịnh Nguyện, là một trong những vị tu sĩ mở đầu cho truyền thống tốt đẹp này. Một số người vẫn hình dung nhà thờ là nơi để tổ chức đám cưới với tiếng đàn Organ sang trọng, âm vang dưới mái vòm trang nghiêm phủ xuống cô dâu chú rể. Còn nhà chùa chỉ là nơi tổ chức đám tang, với những “vãng sanh đường” leo lét ánh nến, nhang khói mờ mờ, âm âm tiếng mõ trầm buồn.
22/07/2011(Xem: 14293)
Bạn bè là sự thể hiện sinh động cho mối quan hệ đặc thù giữa người với người. Mối quan hệ đó được thiết lập căn bản trên sự đồng đẳng hoặc bất đồng đẳng về giới tính, tuổi tác, chí nguyện, đam mê, sở thích,… là tiêu chí quan trọng để khẳng định nhân cách hoặc quan điểm sống của một con người. Với Phật giáo, sống là sống với. Do đó, bạn bè là một thuộc tính riêng có của các loài chúng sanh nói chung và của con người nói riêng, và là một trong những nhân tố quan trọng, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực lên bối cảnh sống cũng như khả năng thăng hoa tâm linh của một con người. Sống phải có bạn bè. Không có bạn bè, được xem là một trong năm điều bất hạnh đã được Đức Phật cảnh báo(1).
22/07/2011(Xem: 11128)
Bên cạnh sự ảnh hưởng trực tiếp của gia đình, trong cuộc sống chúng ta, mối tương giao với bạn bè cũng đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của mình. Trong mối quen biết ngoài xã hội, hay trong đoàn thể cùng sống chung, ta có nhiều loại bạn hữu; nhưng tìm được người bạn tốt, chân thật hiểu được ta, để có thể chia sẻ tâm tư là điều khó, huống chi là hỗ trợ ta vượt qua những khó khăn trong đời sống thì càng khó gấp bội phần.