9. Đừng bao giờ bận rộn

22/02/201112:05(Xem: 11877)
9. Đừng bao giờ bận rộn

GIỌT MỒ HÔI THANH THẢN
Nguyên Minh

Đừng bao giờ bận rộn

Cho dù bạn đang làm bất cứ loại công việc gì, điều chắc chắn là một khi công việc phát triển tốt thì khối lượng công việc chắc chắn sẽ gia tăng, và do đó mà bạn cũng sẽ phải làm việc nhiều hơn, tích cực hơn.

Lấy ví dụ từ một cửa hàng bán lẻ hay một tiệm hớt tóc chẳng hạn, khi lượng khách đột nhiên gia tăng gấp đôi, chắc chắn là sẽ không ai lại muốn từ chối phục vụ khách. Và vì thế mọi nhân viên đều phải gia tăng tốc độ cũng như thời gian làm việc. Nếu sự gia tăng này tiếp tục kéo dài, giải pháp tiếp theo phải là tăng thêm số nhân viên, nhưng trước khi điều đó xảy ra thì chắc chắn vẫn phải có một thời gian “quá tải”.

Và điều tất nhiên khi bạn làm chủ một cơ sở kinh doanh hay sản xuất vẫn là luôn mong muốn cho khối lượng công việc được gia tăng càng nhiều càng tốt, ngay cả khi điều đó sẽ làm cho bạn mệt nhọc hơn. Tuy nhiên, hệ quả tất yếu khi bạn có quá nhiều việc để làm là mọi thứ sẽ rất dễ trở nên rối rắm, ngay từ những suy nghĩ, tính toán trong đầu óc của bạn cho đến việc tổ chức, điều hành công việc cũng như ứng xử với mọi người chung quanh. Đúng như khuynh hướng thông thường vẫn được thể hiện qua cụm từ “bận rộn”.

Thật vậy, khi bạn phải liên tục xoay trở, xử lý rất nhiều công việc trong một khoảng thời gian quá ngắn, có nghĩa là lúc nào cũng “bận” thì thật khó để có thể giữ cho đầu óc được tỉnh táo, sáng suốt, không “rộn” lên vì mớ bòng bong của công việc!

Tuy nhiên, khuynh hướng “bận rộn” này thật ra lại cũng chỉ là một thói quen lâu ngày mà thôi. Nếu chúng ta có thể sáng suốt nhận ra điều này thì ta vẫn có thể giữ mình “bận” mà không “rộn”. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải hiểu được vì sao mà “bận và rộn” lại rất thường đi đôi với nhau.

Thật ra thì bản thân việc phải xử lý nhanh và liên tục nhiều công việc không dẫn đến sự rối rắm trong suy nghĩ và ứng xử của chúng ta. Vấn đề nằm ở chỗ là khi có nhiều việc để làm thì chúng ta luôn nảy sinh khuynh hướng nôn nóng muốn hoàn tất mọi việc cho thật nhanh, kèm theo với sự lo lắng là một phần công việc nào đó sẽ không kịp hoàn thành trong thời gian đã định.

Thật không may là khuynh hướng nôn nóng cũng như sự lo lắng đó hoàn toàn không giúp đẩy nhanh tốc độ làm việc, mà ngược lại nó còn làm giảm đáng kể hiệu quả của việc làm. Hơn thế nữa, sự nôn nóng và tâm trạng lo lắng này lại chính là nguyên nhân dẫn đến sự rối rắm trong suy nghĩ và mọi hành vi ứng xử của chúng ta.

Vì thế, ngay cả khi bạn đang có rất nhiều việc phải làm trong một thời gian nhất định, điều khôn ngoan hơn vẫn là duy trì sự bình tĩnh, sáng suốt để giải quyết tốt từng sự việc mà không để nảy sinh tâm trạng nôn nóng. Bạn cũng không cần thiết phải lo lắng về việc không thể hoàn thành tất cả mọi công việc. Xét cho cùng thì thời gian và năng lực, tốc độ làm việc của bạn cũng như những người cộng sự của bạn đều là những yếu tố có giới hạn. Chỉ cần bạn đã cố hết sức mình, cho dù kết quả có không được như mong muốn cũng hoàn toàn không phải là điều đáng trách.

Nếu bạn làm được như thế, điều chắc chắn là tốc độ giải quyết công việc của bạn sẽ đạt được đến mức tối ưu. Hơn thế nữa, bạn cũng sẽ loại trừ được không khí căng thẳng trong môi trường làm việc, tạo điều kiện cho những người cộng sự của bạn dễ dàng làm việc tốt hơn, góp phần đẩy nhanh tiến độ công việc. Như vậy, rõ ràng là cho dù bạn không nôn nóng, không lo lắng mà công việc vẫn được tiến triển theo mức độ tốt nhất.

Ngược lại, sự nôn nóng và tâm trạng lo lắng luôn làm cho bạn mất đi sự bình tĩnh và sáng suốt. Vì thế, bạn không thể giải quyết công việc một cách có hiệu quả, đồng thời còn tạo ra bầu không khí căng thẳng trong môi trường làm việc, khiến cho các cộng sự của bạn cũng phải cảm thấy ngột ngạt và không thể làm việc một cách có hiệu quả nhất.

Vì thế, sự thật là ngay cả trong những lúc rất bận vì công việc bạn cũng không cần thiết và không nên để mình rơi vào khuynh hướng rối rắm, bởi vì điều đó hoàn toàn không có lợi cho công việc mà chỉ càng làm cho vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn mà thôi. Bạn rất cần phải tiếp tục gia tăng khối lượng công việc theo như nhu cầu phát triển công việc đòi hỏi, nhưng đừng bao giờ rơi vào khuynh hướng bận rộn theo ý nghĩa như vừa được nêu trên.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14381)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20306)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17527)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15037)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16836)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12822)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11694)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12250)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8170)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9184)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.