8. Giọt mồ hôi thanh thản

22/02/201112:05(Xem: 12637)
8. Giọt mồ hôi thanh thản

GIỌT MỒ HÔI THANH THẢN
Nguyên Minh

Giọt mồ hôi thanh thản

Điểm giống nhau của tất cả mọi công việc trong xã hội là luôn đòi hỏi chúng ta phải hoạt động, cho dù đó là sự hoạt động của trí não hoặc chân tay, hoặc thậm chí là cả hai. Và vì hoạt động nên tất yếu chúng ta sẽ phải mệt mỏi sau một thời gian làm việc. Như vậy, sự mệt mỏi ở từng mức độ khác nhau là điều tất nhiên không sao tránh khỏi. Tuy nhiên, những khuynh hướng tác động khác nhau của sự mệt mỏi khi làm việc đối với trạng thái tinh thần, tình cảm của chúng ta lại có rất nhiều điều đáng nói.

Có một khuynh hướng chung nhất mà hầu hết chúng ta đều xem là “tự nhiên”. Đó là tâm trạng bực dọc, dễ cáu gắt khi mỏi mệt. Vì khuynh hướng này được thấy ở đa số, nếu không muốn nói là hầu hết mọi người, nên điều dễ hiểu là nó thường được xem như một khuynh hướng tự nhiên thuộc về bản chất con người. Nhưng điều đó thật ra có đúng chăng?

Hãy thử đặt ra một câu hỏi: “Sự cáu gắt và bực dọc có giúp ta giảm bớt mệt nhọc hay không?” Câu trả lời chắc chắn là không! Hơn thế nữa, nếu nói một cách chính xác thì nó còn có phần làm tăng thêm mức độ mệt nhọc hiện có trong lúc đó. Vậy điều gì đã khiến hầu hết chúng ta đều rơi vào khuynh hướng vô lý này?

Trong thực tế, vẫn có một số người tỏ ra rất hiếm khi rơi vào khuynh hướng này. Nổi bật trong số đó là những người làm công tác thiện nguyện hay các hoạt động từ thiện xã hội. Trong những chuyến đi cứu trợ nạn lụt miền Trung chẳng hạn, một vị nữ tu đã kể lại với tôi về đoạn đường đầy gian khó để đến được những xóm làng heo hút, xa xôi, mang theo phẩm vật cứu trợ bằng những phương tiện chuyên chở không mấy gì hiện đại. Sau những đoạn đường như thế, hết thảy mọi người đều mệt nhoài. Tuy nhiên, họ vẫn luôn nở những nụ cười rất tươi để có thể an ủi và xoa dịu nỗi đau mất mát cho những người dân vùng lũ lụt.

Gần gũi hơn trong cuộc sống hằng ngày là những khi chúng ta tự nguyện làm một điều gì để giúp đỡ ai đó, với một ý nghĩa nhất định nào đó. Trong những trường hợp này, cho dù mệt nhọc đến đâu chúng ta cũng rất ít khi rơi vào tâm trạng bực dọc hoặc cáu gắt. Vì sao vậy? Bởi vì chúng ta luôn hiểu được ý nghĩa và mục đích của công việc đang làm, và chúng ta biết rằng tâm trạng cáu gắt, bực dọc là đi ngược lại với ý nghĩa, mục đích ấy. Khi đến giúp một người bạn thân lợp lại mái nhà chẳng hạn, cho dù mệt nhọc bạn cũng không thể tỏ ra bực dọc hoặc cáu gắt.

Còn nhớ vào những năm khuynh hướng bao cấp còn tồn tại, mỗi lần đi mua sắm ở các hợp tác xã hay cửa hàng mậu dịch quốc doanh, chúng ta ai cũng thấy quen thuộc với khuôn mặt lạnh lùng hoặc cau có của những cô bán hàng. Có cảm giác như họ luôn thấy phiền lòng mỗi khi có người đến mua hàng và họ phải phục vụ. Đó là vì việc mua bán ấy hầu như không ảnh hưởng gì đến tiền lương của họ, và bản thân họ lại chẳng hiểu gì về những ý nghĩa thật có của công việc mà họ đang làm.

Ngược lại, ngày nay khi đi mua sắm, dù là ở siêu thị hay các gian hàng bán lẻ, chúng ta luôn bắt gặp những nụ cười thân thiện, cởi mở và mời gọi, cùng với những lời giải thích tận tình và vui vẻ của những cô bán hàng. Đó là vì doanh số bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của họ và họ luôn hiểu được những ý nghĩa của công việc đang làm. Hơn bao giờ hết, tôn chỉ “khách hàng là thượng đế” đang được thực hiện ở khắp mọi nơi trong các hoạt động thương mại cũng như dịch vụ.

Vấn đề có thể rút ra từ đây là, khi chúng ta hiểu rõ được mục đích, ý nghĩa cũng như hiệu quả của công việc đang làm, chúng ta thường không rơi vào trạng thái bực dọc hoặc dễ cáu gắt khi mệt nhọc. Nếu bạn thường xuyên mang vẻ mặt đưa đám và buông ra những lời cáu gắt với khách hàng, cơ sở kinh doanh của bạn sẽ có nhiều nguy cơ biến một nơi rất... rộng rãi và yên tĩnh!

Dù vậy, rất nhiều người trong chúng ta tuy không cáu gắt với khách hàng nhưng lại thường quay sang cáu gắt với đồng nghiệp hoặc nhân viên cấp dưới vào những lúc mệt nhọc. Đó là vì cái khuynh hướng “bực dọc và cáu gắt” của chúng ta vẫn nhất định phải tìm chỗ để... thoát ra. Và cũng bởi vì chúng ta không nhận thức đúng về những ý nghĩa của công việc đang làm.

Nếu chúng ta phân tích sâu vào ý nghĩa của công việc, chúng ta sẽ thấy rằng không chỉ “khách hàng là thượng đế” mà ngay cả những đồng nghiệp, những người cộng sự quanh ta, thậm chí những nhân viên cấp dưới của ta cũng đều là thượng đế! Vì sao vậy? Vì trong khi khách hàng là người trực tiếp mang lợi nhuận đến cho chúng ta thì chính những người đồng nghiệp, những người cộng sự, cho đến những nhân viên cấp dưới của ta đều là những người đang cùng ta góp phần làm ra lợi nhuận. Nếu hiểu được điều này, chúng ta chắc chắn sẽ không thể cau mày gắt gỏng với họ, bởi vì thật ra họ cũng rất cần được trân trọng không kém những khách hàng. Trong thực tế, những người kinh doanh giỏi thường cũng là những người biết cư xử hòa hợp và chiếm được cảm tình của hầu hết những người được tiếp xúc với họ.

Vì thế, chúng ta có thể kiềm chế tâm trạng bực dọc và dễ cáu gắt vào những lúc mệt nhọc bằng cách phân tích để thấy rằng những người quanh ta không có ai đáng là đối tượng của tâm trạng ấy. Tuy nhiên, để giải tỏa hoàn toàn tâm trạng tiêu cực này, chúng ta cần tự mình đặt ra và trả lời câu hỏi: “Liệu tâm trạng bực dọc và cáu gắt có giúp làm giảm bớt sự mệt nhọc của ta hay không?”

Khi tự mình trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ nhận ra ngay rằng tâm trạng bực dọc và cáu gắt hoàn toàn không giúp gì được cho chúng ta trong việc làm giảm bớt sự mệt nhọc. Ngược lại, một phần lớn năng lượng tinh thần sẽ bị mất đi bởi tâm trạng tiêu cực này, và vì thế mà chúng ta sẽ càng cảm thấy mệt nhọc hơn. Trong những trường hợp mà sự bực dọc và cáu gắt của chúng ta được biểu lộ ra thành hành động và lời nói thì không chỉ là năng lượng tinh thần, mà còn có cả một phần lớn năng lượng thể chất cũng sẽ bị tiêu hao. Hậu quả tất nhiên là sức lực của chúng ta sẽ càng thêm cạn kiệt.

Ngay khi chúng ta nhận ra được tính chất vô lý của khuynh hướng bực dọc và cáu gắt, tâm trạng tiêu cực này sẽ lập tức được giải tỏa, và chúng ta sẽ lấy lại được một nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ có thể giúp ta nhanh chóng hồi phục sức lực đã mất đi qua thời gian làm việc.

Khuynh hướng bực dọc và cáu gắt khi mệt nhọc vốn chỉ là một kiểu thói quen xấu mà chúng ta đã vô tình mắc phải. Trong thực tế, việc nhận thức đúng về những ý nghĩa thật có của công việc – như đã thảo luận trong một phần trước – không chỉ giúp chúng ta loại trừ được thói quen xấu này mà còn có thể giúp chúng ta tìm được niềm vui trong công việc. Và niềm vui trong công việc luôn giúp ta giảm nhẹ sự mệt nhọc ngay cả trong những hoàn cảnh căng thẳng nhất.

Mặt khác, khi chúng ta loại bỏ được khuynh hướng bực dọc và cáu gắt, những người quanh ta chắc chắn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn và dễ gần gũi với ta hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho những quan hệ tình cảm trong môi trường làm việc dễ dàng nảy nở và gắn bó ngày càng bền chặt hơn. Đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm cho môi trường làm việc của chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, thoải mái hơn và mang lại nhiều niềm vui hơn.

Thử tưởng tượng khi trên đường đi đến sở làm bạn luôn có thể hình dung ra sự chào đón nồng nhiệt và vui vẻ của các bạn đồng nghiệp, những nụ cười rất tươi khi gặp nhau và chào hỏi, những câu chuyện đầy cảm thông và chia sẻ vào những giờ nghỉ giải lao... Tất cả những điều đó luôn góp phần làm vơi đi sự mệt nhọc của bạn trong công việc. Và vì thế, ngay cả trong những lúc phải làm việc rất căng bạn vẫn có thể tìm thấy cho mình một niềm vui thanh thản trong công việc.

Sự mệt nhọc sau những giờ làm việc là điều không sao tránh khỏi. Thậm chí có những khi công việc phát triển thuận lợi chúng ta lại càng phải làm việc nhiều hơn, căng thẳng hơn do khối lượng công việc gia tăng, và vì thế mà cũng chắc chắn là sẽ mệt nhọc hơn. Những giọt mồ hôi đổ ra trong công việc là điều tất nhiên, thậm chí còn là niềm tự hào chính đáng của chúng ta về những đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết loại bỏ những tâm trạng và cảm xúc tiêu cực thì chắc chắn là những giọt mồ hôi ấy sẽ chỉ nhỏ xuống trong niềm vui và sự thanh thản mà không phải là sự bực dọc hay cáu gắt.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14438)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20447)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17750)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15190)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 17047)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12925)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11824)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12491)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8559)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9283)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.