6. Chấp nhận nghịch cảnh

22/02/201112:05(Xem: 10923)
6. Chấp nhận nghịch cảnh

GIỌT MỒ HÔI THANH THẢN
Nguyên Minh

Chấp nhận nghịch cảnh

Chúng ta không đủ may mắn được sống trong một thiên đàng trên mặt đất để có thể gặp toàn những điều như ý. Sự thật là cuộc sống quanh ta luôn đầy dẫy những điều bất như ý, những nghịch cảnh phải vượt qua. Cho dù bạn đang làm bất cứ loại công việc nào, những điều trái ý vẫn luôn là chuyện tất nhiên phải có trong công việc.

Nếu được hỏi về những gì không hài lòng trong công việc, tôi tin là bạn sẽ không biết phải bắt đầu từ đâu, bởi thường có quá nhiều chuyện để “kể lể” về một chủ đề như thế. Nếu bạn có đủ may mắn để gặp được những người đồng nghiệp tốt, hẳn vẫn còn nhiều chuyện phải nói về mối quan hệ với ông chủ hoặc với trưởng phòng, giám đốc... Và nếu như bạn không gặp phải những khó khăn trong quan hệ với mọi người, bạn cũng chưa hẳn đã có đủ may mắn để có được một khoản thu nhập đáng hài lòng, hoặc những thuận lợi thường xuyên trong công việc... Thậm chí điều thường gặp hơn nữa là bạn rất ít khi được quyền chọn lựa những công việc để làm theo sở thích, mà luôn ít nhiều chịu sự quy định của những hoàn cảnh khách quan hoặc theo ý muốn của người khác. Nói chung, nếu phải tìm ra những điểm không hài lòng trong công việc, chắc chắn là bạn sẽ không phải mất nhiều thời gian suy nghĩ.

Nhưng điều ngược lại cũng là một thực tế thường bị bỏ qua không nghĩ đến. Đó là, cũng luôn có rất nhiều điểm đáng hài lòng trong công việc, cho dù bạn đang làm bất cứ loại công việc gì, trong bất cứ hoàn cảnh làm việc như thế nào. Ít nhất trong môi trường làm việc cũng phải có một ai đó đáng để bạn quan tâm, ưa thích hoặc yêu mến. Ít nhất công việc bạn đang làm cũng phải có một vài ưu điểm nào đó không thể có trong những công việc khác. Và ít nhất thì công việc đang làm cũng có thể giúp bạn duy trì được cuộc sống cho bản thân và gia đình, cho dù là trong một điều kiện không được thong thả lắm.

Trong thực tế, những điều hài lòng và không hài lòng luôn đan xen với nhau quanh bạn như những mảng màu xanh đỏ được trang trí trên một chiếc bánh kem. Bạn không thể đi tìm một công việc hoàn toàn chỉ có những điều đáng hài lòng, nhưng cũng không bao giờ có một công việc chỉ hoàn toàn làm cho bạn thất vọng. Vấn đề là bạn phải biết nhận ra thực tế này để đừng bao giờ cường điệu hóa những điều trái ý gặp phải trong công việc.

Khi chấp nhận những điều trái ý, những nghịch cảnh trong công việc như một thực tế tất nhiên phải có, chúng ta sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều trong việc đối mặt và vượt qua, hoặc thậm chí chỉ là để chịu đựng trong một thời gian nào đó. Nhận thức này bao giờ cũng giúp ta tránh được những thái độ bực dọc, cau có không cần thiết, và nhờ đó mà luôn giữ được sự sáng suốt trong việc quyết định mọi công việc. Ngược lại, sự phàn nàn hay than trách chẳng bao giờ giúp ta giải quyết được bất cứ điều gì, mà ngược lại chỉ mang đến sự khó chịu cho những người quanh ta. Điều này rất dễ làm cho mọi người dần xa lánh ta, và hệ quả tất nhiên là ta sẽ không có được những sự giúp đỡ từ người khác khi cần thiết.

Khi bạn làm việc chăm chỉ và thể hiện năng lực rất tốt trong công việc, bạn có quyền hy vọng và thậm chí là đòi hỏi sự thăng tiến. Tuy nhiên, nếu điều đó không xảy ra, chẳng hạn như người được đề bạt lại là một đồng nghiệp mà bạn tin chắc là yếu kém hơn mình, bạn cũng không nên để cho việc đó nuôi lớn sự thất vọng. Bạn có quyền nêu lên ý kiến của mình với người có trách nhiệm, nhưng không nên để cho sự thất vọng làm thay đổi thái độ làm việc cũng như niềm vui trong công việc. Bởi vì điều đó hoàn toàn không giúp bạn làm thay đổi sự việc!

Những điều tương tự như thế vẫn thường xảy ra trong thực tế, và bao giờ cũng có những nguyên nhân, những lý do nhất định mà đôi khi bạn không thể hiểu hết. Điều duy nhất chắc chắn bạn có thể biết được là sự thật đã xảy ra, cho dù đó là một sự thật trái ý. Và bạn phải chấp nhận sự thật ấy theo cách tối ưu nhất, có lợi nhất cho bản thân cũng như cho mọi người chung quanh.

Có những lúc bạn phải làm việc nhiều hơn mức thông thường nhưng lại không nhận được mức thù lao hợp lý, chẳng hạn như khi công ty gặp khó khăn. Bạn có thể than phiền và cảm thấy bực tức vì việc này, nhưng điều đó không mang lại kết quả gì tốt đẹp. Điều tốt hơn có thể làm là hãy nhìn sự việc với một thái độ cảm thông và rộng mở hơn. Bạn đang làm việc trong một tập thể, và sự tồn tại của bạn gắn liền với sự tồn tại của tập thể đó. Những khó khăn mà công ty đang gặp phải có thể là hoàn toàn khách quan, không phải do ý muốn của ban giám đốc hay người chủ công ty, và mọi người nên cùng nhau chèo chống để vượt qua giai đoạn khó khăn ấy. Xét cho cùng, cũng sẽ có những lúc công ty làm ăn thuận lợi và mọi nhân viên công ty được bù đắp thỏa đáng.

Nhưng ngay cả khi bạn đang là đối tượng của những người sử dụng lao động không đúng theo luật định, thì sự than phiền hay bực tức cũng sẽ không mang lại được điều gì. Điều khôn ngoan hơn là phải xác định chắc chắn vấn đề và có những thái độ phản đối thích hợp với người có trách nhiệm, hoặc thậm chí là nghỉ việc. Còn một khi bạn đã chấp nhận tiếp tục hợp tác thì không nên để cho những cảm xúc tiêu cực làm mất đi niềm vui trong công việc.

Tiền lương cũng là một trong những điểm không hài lòng rất thường gặp. Tuy nhiên, nếu bạn đã chấp nhận một công việc nào đó thì việc than phiền về tiền lương chỉ có thể nuôi lớn thêm cảm giác bực dọc mà không giúp ích được gì. Điều tốt hơn là bạn nên hài lòng với sự chọn lựa của chính mình cho đến khi có một quyết định thay đổi. Hơn thế nữa, tiền lương không phải là giá trị duy nhất của công việc. Bạn cần cân nhắc đến những yếu tố khác nữa, chẳng hạn như sự say mê công việc hay những mối quan hệ tốt đẹp trong công việc mà bạn đang có được.

Nói chung, có rất nhiều điều trong thực tế mà bạn không thể thay đổi được. Trong những trường hợp ấy, cảm giác không hài lòng và thái độ than phiền hay bực dọc sẽ chẳng bao giờ là giải pháp cho vấn đề. Bạn cần phải biết chấp nhận những nghịch cảnh và duy trì niềm vui trong công việc để vượt qua, bởi vì điều đó bao giờ cũng sẽ là tốt nhất cho bản thân bạn cũng như cho mọi người chung quanh.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14372)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20296)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17503)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15011)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16819)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12810)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11687)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12224)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8145)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9180)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.