Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Chương I

28/06/201318:30(Xem: 2032)
Chương I

Viễn chinh Nam Kỳ

Nguyên tác: Histoire deL’EXPÉDITION DE COCHINCHINE en 1861

Người dịch: Hoang Phong

---o0o---

CHƯƠNG I

Ðề cương:

Ngưng chiến ở Bắc Kinh giúp các lực lượng Pháp rảnh tay- Phó thủy sư đề đốc Charner được Hoàng đế đề cử thống lãnh viễn chinh Nam Kỳ- Các lực lượng viễn chinh tổ chức trở lại, rời nước Tàu đến Saĩgon trong những ngày đầu tháng hai 1861.

Hoàng đế Hien-fung bất thần đào tẩu về Zhe-hol nơi tận cùng xứ Mãn châu làm quân đồng minh hết hy vọng thương thuyết với Thiên Quốc. Quyết định cực đoan của Hoàng đế nước Tàu gây ra mối hiểm nguy lớn nhất cho việc tiến quân của lực lượng đồng minh lúc bấy giờ. Tương lai cho thấy nhiều điềm xấu và tối tăm: quân đồng minh đang lâm vào một cuộc chiến man rợ, kéo dài nhưng muốn chấm dứt trong danh dự cũng thật khó khăn. Mùa đông đã báo hiệu và mọi người đều biết sẽ vô cùng gay go trên đất Tàu, buộc ta phải chọn một quyết định. Lực lượng đồng minh vì thế phải rút lui, đóng quân chặt chẽ tại Tien-tsin, thiết lập liên lạc với căn cứ hành quân trên bờ biển qua các ngõ Tien-kou, Sing-ko, Takou. Lực lượng hải quân cũng bắt buộc phải chuẩn bị theo để hứng chịu mùa đông.

Bộ mặt mới của tất cả mọi việc sẽ thay đổi hết, tùy thuộc vào những yếu tố mới, tức việc tiếp xúc với Hoàng tử Kong, từ tánh tình, vị thế vương quyền của ông ta cho đến kết quả trung gian của một lực lượng Âu châu liên hệ thân hữu từ lâu với nước Tàu[1]Ngày 25 tháng 10 năm 1860, nam tước Gros, huân tước Elgin và hoàng tử Kong cùng ký một hiệp ước hoà bình. Hiệp ước thành công nhờ sự dàn xếp của Ðại tướng Ignatieff. Nhờ vậy tình trạng tháo mở, quân đội của hai cường quốc được giải tỏa [2]. Lực lượng hải quân và một phần đội quân viễn chinh của ta được rảnh tay để kéo xuống đập vào Nam kỳ với mục đích củng cố vị thế thống lãnh của Pháp ở phần đất Á châu này.

Hoàng Ðế[3]giao phó việc chỉ huy viễn chinh cho phó đề đốc hải quân Charner. Phó đề đốc Charner liền tổ chức lại lưc lượng hải quân do chính ông làm chỉ huy trưởng từ lúc mới khởi đầu cuộc chiến tranh với Tàu. Ông thành lập hai sư đoàn lớn. Sư đoàn thứ nhất gọi là Sư đoàn Tàu, lo việc bảo vệ và canh giữ Ta-kou, Tche-fou, Shang-haĩ, luôn cả các hòn đảo Chu-san và Nhật bản; ông phong chuẩn đề đốc hải quân Protet thống lãnh sư đoàn này. Ông quyết định là các chiến thuyền của sư đoàn Tàu phải thật linh động, di chuyển ngắn hạn ở Nhật, cốt để phô trương khả năng mạnh mẽ về phương tiện mà nước Pháp sẵn có tại các vùng biển này. Mặc dù ở xa mặt trận đang được chuẩn bị là Nam kỳ, vị thế của đơn vị thuộc miền bắc nước Tàu thật quan trọng vì giữ nhiều trọng trách như: canh chừng Nhật bản; khống chế bọn nổi loạn trong các xí nghiệp kinh doanh ở Shang-haĩ và Ning-po; nuôi đạo quân viễn chinh và hồi huơng quân lính; ngoài ra còn phải bảo vệ hiệp ước vừa ký mà sự thực thi chưa chắc được bảo đảm; việc duy trì đường dây liên lạc giữa Ta-kou và Tche-fou. Sư đoàn thứ hai dùng để hành quân ở Nam kỳ.

Vị tổng tư lệnh chỉ định chuẩn đề đốc Page trực tiếp chỉ huy sư đoàn thứ hai và đặt dưới sự lãnh đạo của chính mình. Hai khu vực Hong-kong và Canton tách ra khỏi trách nhiệm chỉ huy của tổng hành dinh Saĩgon.

Phó đề đốc Charner thân hành đến Tien-tsin để hội ý với các sứ thần các nước và các tướng lãnh đồng minh, để thông báo những gì đã được quyết định liên hệ đến người Pháp.

Chiến hạm Duchaylagiao cho Nam tước Gros xử dụng, ông này phải trở về Pháp sau khi sắp xếp cho ông de Bourboulon đổi từ Shang-haĩ đến nhậm chức ở Bắc kinh. Chiến hạm Duchaylatrên đường về sẽ ghé Hong-kong, Manille và có thể cả Saĩgon. Chiến hạm Duchaylamang theo quân bổ sung[4]cho trại binh Saĩgon. Theo các tin tức mới nhất thì quân trại Saĩgon càng ngày càng thiếu nhân lực, việc canh phòng khó khăn vì vòng đai phòng thủ rộng_Ðoàn quân đổ bộ trước kia đã tiến chung với quân đồng minh vào Bắc kinh được giải thể. Thủy quân đánh bộ cũng tách ra khỏi quân đoàn viễn chinh trên đất Tàu để tăng cường một phần cho trại quân Ta-kou: phần còn lại chuyển đến Canton, và sau đó là Saĩgon_Ðại tướng Jamin cùng với trung đoàn bộ binh 101, tiểu đoàn 2 bộ binh, một giàn pháo binh 12 khẩu, một giàn pháo binh 4 khẩu, một đại đội công binh và một nữa bộ phận hành chánh được chuyển về Shang-haĩ. Ðại tướng Collineau được chỉ định chiếm đóng Tien-tsin với đoàn lục quân 102, hai giàn pháo binh, một đại đội công binh, một số kỵ binh và một nữa còn lại của bộ phận hành chánh_Chiến thuyền Forbingiao cho đại tướng Cousin-Montauban, vì ông này muốn thanh tra vài nơi tại Nhật bản trước khi quay về Shang-haĩ.

Việc điều động lực lượng vừa kể đột nhiên làm mất tầm quan trọng chiến lược của Tche-fou. Trong suốt cuộc viễn chinh Tàu, Tche-fou là kho lương chính của quân đội. Nay kho lương này chỉ còn dùng để tiếp tế cho các chiến hạm trong vùng, cho toán quân phòng ngự địa phương và cho vùng sông Pei-ho khi cần tới. Tuy vậy vị trí này còn giữ một tầm quan trọng khác; trong thời gian mà vịnh Pe-tche-li và sông Pei-ho bị đóng băng thì phải dùng ngõ Tche-fou để liên lạc với Tien-tsin.

Các vấn đề chi tiết được giải quyết giữa các chỉ huy trưởng thuộc các tổng tư lịnh hải quân và quân đội. Công cuộc chuyển quân lên tàu để trực chỉ Nam kỳ bắt đầu, mặc dù băng dá, xa bờ và bão tố.

Gió thổi gần như liên tục từ ngoài khơi vào; sóng đứng trên đáy biển bùn, chuyển thành sóng đập, tạo sình lầy gây thật nhiều trở ngại cho việc chuyển quân; nếu sóng lăn và dài thì ít gây khó khăn hơn. Khí lạnh đã bắt đầu gay gắt: dây thừng trên tàu đóng đá và sàn tàu cũng đông đá trơn trợt; ban ngày cũng thường đóng băng; ban đêm hàn thử biểu tuột xuống đến mười hay mười hai độ dưới số không. Thủy thủ đoàn của các pháo hạm lớn từ Nam kỳ vừa đưa tới đây, vì đã quá mệt mỏi sau hai năm chiến đấu dưới khí hậu nhiệt đới, nên phải chịu cam khổ vô cùng. Vào khoảng 20 tháng 11, nước đá bắt đầu bít sông Pei-ho. Pháo hạm Alarmebị một cơn gió mạnh làm mắc cạn trên bãi ngay phía trước Ta-kou, mất luôn bánh lái và một phần đuôi tàu. Hộ tống hạm Alom-prah gặp khó khăn vì chân vịt không sử dụng được. Pháo hạm Fusée bị kẹt băng trên sông Pei-ho, sau đó nhờ một trận nước lũ bất ngờ mới thoát ra được, nhưng khi ấy thì việc chuyển quân đã thực hiện xong, cả đạo quân lên đường hết rồi.

Một phần quân số và hành trang được chuyển lên tàu từ một địa điểm cách bờ sáu hải lý, vào đúng lúc cái lạnh của mùa đông càng ngày càng mãnh liệt. Ðây là cuộc hành quân không chiến đấu khó khăn nhất mà hải quân ta đã thực hiện. Việc chuyển quân đánh dấu cuộc viễn chinh nước Tàu đã chấm dứt, chuyển sang chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Nam kỳ. Nhưng thật ra thì việc chuẩn bị viễn chinh Nam kỳ được điều động ở Sha-lui-tien cách Bắc kinh sáu mươi dặm và cách Saĩgon đến tám trăm dặm[5]: các đoàn quân dùng cho chiến dịch Nam kỳ tiến về Sha-lui-tien, các pháo hạm bằng sắt cũng được kéo về nơi này. Pháo hạm bằng sắt loại nhỏ hết sức đắc dụng trong các trận chiến, đã góp công thật đáng kể vào các trận đánh buộc các đồn bót trên sông Pei-ho phải đầu hàng. Người ta thấy loại pháo hạm này ngược xuôi không ngừng trên sông, chuyên chở quân lính và tiếp liệu. Chúng hết sức hữu dụng ở bất cứ loại công tác nào giao phó. Cách đóng các pháo hạm bằng sắt vừa kể đâu có dự trù để dùng vào việc chuyên chở giữa bến Sha-lui-tien và các chiến hạm ở cửa sông Pei-ho; khoảng cách sáu hải lý, biển động, sóng lắc, tàu chòng chành một cách đáng ngại. Máy tàu không đủ mạnh để ngược sóng trong lúc gió mạnh, nhưng là một phương tiện vô cùng quí giá giúp tay cho người lính hải quân trên đường chiến đấu: pháo hạm đủ sức dùng làm tàu kéo, đôi khi cũng dùng để chở nặng. Nhờ các tàu này mà việc chuyển quân hoàn tất trong hai mươi ngày, mặc dù biển động, gió bảo và trời lạnh. Các tàu này đã giúp thật nhiều cho thủy thủ đoàn khỏi ra tay chèo chống; thật ra thì thủy thủ đoàn dù có bắt buộc họ chèo họ cũng không đủ sức. Ở Nam kỳ, nơi sông ngòi chằng chịt, vai trò của các pháo hạm sẽ còn cần thiết hơn nữa; ta có thể đoán trước rồi đây các tàu này sẽ là những phương tiện rất tốt vừa để chiến đấu vừa để tiếp vận trong cuộc chiến ở Nam kỳ. Nhưng phải công nhận việc kéo những chiếc sa-lúp pháo hạm chạy bằng hơi nước, chỉ dự trù hoạt động trong vùng nước êm, suốt tám trăm dặm đường biển để đến Nam kỳ, là một kinh nghiệm mới cho ngành hải quân. Súng đại bác, đạn dược, lương thực trên sa-lúp pháo hạm đều chuyển sang các tàu kéo. Các khe hai bên vách tàu được bít kín, than đem dồn về phía mũi tàu để khi kéo thì đầu tàu khỏi bị ngóc cao quá độ. Các sa-lúp pháo hạm đã vượt qua khỏi mọi thử thách, chỉ mất có hai chiếc bị chìm trên đường đến Nam kỳ.

Trong khi đó các tàu lớn lần lượt ra khơi sau khi chuẩn bị xong. Tàu Saônechở cu-li từ Canton. Tàu Duchaylarời bến ngày 10 tháng 10 với nam tước Gros; cột chính của tàu có treo cờ quốc gia kích thước vuông có hình ngọn lửa[6]Ngay ngày hôm sau, huân tước Elgin cũng đi Hong-kong. Ngày 1 tháng 12, tàu Némésisra khơi quay về Pháp sau năm năm hoạt động ở Tàu. Ðã có bao nhiêu người ra đi với chiếc tàu này mà từ nay sẽ không bao giờ trở về nữa!

Suốt thời gian hoạt đông vừa kể trên, tàu Némésisđã tham dự vào tất cả các cuộc hành quân đánh phá ở Tàu và Nam kỳ, sử dụng đại pháo và dùng cả thủy thủ đoàn của tàu để đổ bộ. Các tàu Renommée, Monge, Dryade, Dragonne, Forbinlần lượt ra khơi theo lịch trình đã định trước. Các tàu này sẽ thượng cờ Pháp khi đến Nagasaki và Yedo; phô trương thanh thế xong thì trực chỉ Woo-sung hoặc Hong-kong.

Ngày 5 tháng 12 năm 1860, các toán quân chuyển từ Bắc kinh, đúng ra phải đến đóng ở Shang-haĩ, lại đem lên tàu để đưa đi Nam kỳ. Các tàu chiến cuối cùng của Pháp trong vùng cũng nhổ neo rời bến trên sông Pei-ho. Cửa sông hình phểu không thấy bờ bến đâu hết giống như ở giữa biển khơi, nước thì vàng khè vì phù sa sông Pei-ho và sông Peh-tang; cuối vịnh Pe-tche-li, mà người ta thường gọi sai là vũng tàu Sha-lui-tien, và cả sông Pei-ho trở nên vắng tanh,thật hiu quạnh sau khi hơn bốn trăm tàu đã nhổ neo. Tàu Impératrice-Eugénie, kéo cờ hiệu của phó thủy sư đề đốc Charner, tàu Echodùng làm tàu truyền lệnh, cã hai lên đường đến Tche-fou, nơi đây chỉ cách Ta-kou hơn sáu mươi dặm. Hai tàu đã đến nơi chiều ngày 6 tháng 12 Sau khi xắp xếp chi tiết công việc tại đây xong, phó thủy sư đề đốc tổng tư lịnh cùng với hai tàu lại lên đường ngày 7, đến Woo-sung tiền đồn của Shang-haĩ vào ngày 10 tháng 12. Các chiến hạm khác chậm trể vì công tác cũng lần lượt tới nơi.

Chỉ huy trưởng viễn chinh là phó thủy sư đề đốc Charner có toàn quyền gây chiến hay làm hòa với xứ Annam. Từ Hoàng hải, eo biển Sakhaline, biển Nhật bản cho đến eo biển Malacca và eo biển quần đảo Sonde, suốt 1800 dặm, tất cả tàu bè trương cờ Pháp phải chịu mệnh lệnh của ông. Trọng trách của ông rất lớn: vì tình trạng chiến tranh, vì cách xa mẫu quốc, thêm việc nắm giữ hai trọng trách một lúc, vừa là chỉ huy trưởng viễn chinh, vừa là sứ thần, thêm số chiến thuyền quan trọng dưới quyền chỉ huy của mình; tất cả các trách nhiệm hệ trọng đó đã góp phần làm chói lòa thanh danh của phó đề đốc. Chính đây là sự uỷ quyền rộng rãi nhất từ thời Ðệ nhất đế chế [7]giao cho một vị tuớng lãnh hải quân.

Quyền chỉ huy của ông bao trùm một hải đội hơn sáu mươi chiếc, gồm 1 tàu chuyên chở có trọng tải nặng, 2 tàu chiến đấu loại một chạy bằng chân vịt, 5 tàu chiến đấu loại một chạy bằng buồm [8], 1 tàu chiến đấu loại hai chạy buồm [9], 1 đại pháo hạm trang bị đại bác chạy chân vịt, 2 đại pháo hạm chạy chân vịt trang bị súng nặng đặt trên sàn tàu, 2 hộ tống hạm loại một chạy chân vịt, một hộ tống hạm loại hai chạy chân vịt, 2 tàu hộ tống nhẹ chạy chân vịt, 1 hộ tống hạm loại một chạy bánh xe, năm tàu hộ tống nhẹ chạy bánh xe, 6 chiến hạm chạy buồm, 5 pháo hạm loại một chạy chân vịt, 16 thuyền đại pháo bằng sắt có thể tháo lắp được, 2 tàu trọng tải chạy chân vịt mang theo mỗi tàu hai giàn đại pháo, 4 tàu chuyên chở ngựa chạy chân vịt, 11 tàu chuyên chở đại pháo chạy chân vịt, 1 tàu cơ xưởng chạy chân vịt. Tất cả là 68 chiến thuyền gồm 13 chạy buồm và 55 chạy chân vịt. Nhân lực gồm có 4 đại tướng, 13 đại uý thuyền trưởng đại chiến hạm, 22 đại uý thuyền trưởng tàu chiến đấu, 95 trung úy chiến hạm, 105 sĩ quan hải quân cấp trung úy, khoảng chừng 100 chuẩn uý, 100 bác sĩ y khoa, 80 sĩ quan hành chánh, 8 000 lính thủy. Sức mạnh hỏa lực gồm 475 miệng lửa; sức mạnh mã lực của đội hải thuyền tổng cộng 7.866 mã lực. Nhiều tàu hơi nước của các công ty hàng hải thuộc vùng bán đảo và viễn đông được thuê bao để nối liền các cứ điểm từ bờ biển nước Tàu đến Nam kỳ. Các tàu thuê đều phải mang cờ Pháp: vị tổng tư lịnh chọn lựa và biệt phái sĩ quan của mình giữ chức thuyền trưởng hoặc đại diện cho quân đội trên các tàu này. Tóm lại có 80 tàu buôn do nước Pháp thuê, chở lương thực, đạn dược, than, tạo thành một hải đội thương thuyền mà tầm quan trọng thật đáng chú ý tới.

Ðiều không được may là một số các chiến hạm đã chiến đấu từ bốn năm nay, vài chiếc đã bước vào năm thứ năm. Thiết bị trên tàu ở vào tình trạng hư hao, các nồi hơi súp-de của bốn pháo hạm lớn và ba hộ tống hạm gần như rã rời từng mảnh. Tuy nhiên thủy thủ đoàn tốt, sĩ quan xuất sắc, rất thành thạo sau bốn năm chiến đấu. Có thể nói rằng họ tuy có mòn mỏi nhưng không phải là kiệt lực, họ được khích động bằng một luồng sinh khí anh hùng. Trong số các sĩ quan rời Pháp đã lâu, có nhiều người khi đến Tàu vẫn còn là vị thành niên. Họ già đi trong gian khổ và chỉ còn biết nước Pháp qua các bức tranh họ mang theo, họ cũng chẳng hiểu gì hết về thói tục của những dân tộc trước mặt họ, biết đâu họ cũng chỉ vô tình như những thủy thủ khác mà thôi. Những năm tốt đẹp nhất của đời họ đã trôi đi trong khắc khổ, thiếu hẳn sự gần gủi với xã hội chung quanh; sự chung đụng mà ta thấy nơi nào trên trái đất cũng có, nhưng tuyệt nhiên thiếu hẳn ở cái đất Tàu này. Chẳng có gì để làm rung động quả tim của người trai trẻ mới hai mươi lăm tuổi đời[10]Vì thế họ đành chú tâm đến những chuyện khác vậy. Họ kể chuyện xông pha chiến đấu, những thành tích xuất sắc trong ngành nghề của mình, họ bàn với nhau về bảng thăng thưởng. Rốt lại cũng là lợi lộc (tôi muốn nói ở đây là danh dự chớ không phải là tiền bạc) đã làm món mồi để lôi cuốn tham vọng, làm mất đi ý nghĩa hy sinh cao cả của đời họ, kể cả những sở thích riêng tư họ cũng phải hy sinh, nhưng lúc nào họ cũng sẵn sàng hy sinh thêm, họ coi giá trị của huân chương và cấp bực từ trên ban xuống thật xứng đáng với sự hy sinh của họ. Không còn ai non dại. Họ đều có vẻ rắn rỏi và năng hoạt; người nào trước kia dù có nông nổi cũng đã trở nên nghiêm trang hơn; nhiều người đúng ra đã bước vào tuổi thích nghỉ ngơi nhưng vẫn tỏ ra rất hăng hái. Họ dễ bị khích động vì vinh quang, vì danh dự để bảo tồn thanh danh của người thủy thủ; họ tạo thành một khối quân nhân đoàn kết chặt chẽ, nếu sau này có tan rã thì dù cho có gặp hoàn cảnh thuận lợi như trước cũng biết đâu không bao giờ còn tái tạo lại được một khối chặt chẽ như vậy, vì những người đã từng tạo ra nó không còn nữa. Không cần phải khó khăn tìm tòi, ta cũng nhận thấy họ là những người của biển cả, những chiến sĩ, những nhà địa lý thủy học, bác học, ngôn ngữ học; vị chỉ huy trưởng nào chẳng sung sướng thấy dưới tay điều khiển của mình có những đại úy thuyền trưởng mới ba mươi tuổi, chiến đấu không ngừng với sóng gió trên mặt biển xứ Tàu, cặp bờ vào đất Shang-haĩ ở bất cứ thời tiết nào, mặc dù bờ biển nơi đây được coi là khó khăn nhất thế giới. Khả năng quyết định được đem ra thử thách liên tục ở mọi sự kiện, ngay khi hành động đang xảy ra, đã tạo cho mỗi người con đường đi lên.Người chỉ huy có thể trông cậy và tin cẩn ở những con người như thế.

Công bố cuộc viễn chinh đánh chiếm Nam kỳ với một lực lượng hùng hậu cũng giống như có một dòng máu mới bơm vào huyết quản của họ, những huyết quản đã bao lần sôi sục

Giai đoạn chuẩn bị viễn chinh Nam kỳ làm bùng dậy tinh thần đồng đội; nhiều người đã từ lâu được quyền trở về Pháp cũng không muốn nhắc đến chuyện này. Người nào cũng muốn dự phần vào các cuộc hành quân sắp diễn ra.

Woo-sung là một làng Tàu nghèo nàn ở ngã ba sông Yang-tze và Wam-poo. Làng là bến đậu và chỗ họp của hạm đội. Vùng đồng ruộng chung quanh thật bằng phẳng, chỉ hơi nhấp nhô một vài nơi: gồm có ruộng lúa và ruộng trồng bông vải thấp lè tè. Cảnh vật buồn tênh. Tất cả sinh hoạt đều dồn trên mặt sông Shang-haĩ, thuyền buồm ngược xuôi không ngừng; nhiều chiếc trọng tải đến ba trăm tấn: có đủ khả năng đi biển, rất linh hoạt, xoay trở thật tài tình nhờ bánh lái có đục lỗ. Tàu bè Âu châu từ khắp nơi trên thế giới đến, xuôi dòng trên sông nhưng thường thì không ghé vào Woo-sung. Hải quân bỏ neo thành hàng dài thật oai nghiêm bên phía tả ngạn vì nước sâu hơn; phía hữu ngạn nước cạn có nhiều cồn. Từ trên cột buồm của chiến hạm Impératrice-Eugéniecó thể nhìn thấy thành phố Shang-haĩ [11]; liên lạc thường xuyên từ tàu với thành phố Shang-haĩ nhờ vào các pháo hạm bằng sắt, thuyền buồm hay kỵ mã do hải quân thuê mướn. Ðại tướng Cousin-Montauban đặt bộ chỉ huy tại Shang-haĩ gồm đến hai ngàn người thuộc quân đội Pháp.

Chính từ Woo-sung cuộc viễn chinh được tiếp tục chuẩn bị và quyết định từng chi tiết một. Hoàng đế [12]ra quyết định là một phần quân số viễn chinh ở Tàu sẽ đặt dưới quyền điều khiển của phó thủy sư đề đốc Charner. Vị chỉ huy trưởng Charner liền hội ý với đại tướng Montauban và cùng nhau đưa ra các quyết định như sau:

Ðại tướng lữ đoàn de Vassoigne sẽ chỉ huy các binh đoàn viễn chinh, dưới quyền của đề đốc chỉ huy trưởng. Bộ binh, lính đánh bộ người Phi châu, pháo binh, công binh, hậu cần gồm chung là 85 sĩ quan, 1 303 quân sĩ, 272 vừa ngựa vừa lừa [13]. Quân sĩ rút bỏ các đảo Chu-san.

Biệt đội bộ binh đóng giữ các hòn đảo này sẽ chuyển về Hong-kong. Ðội thủy binh bộ chiến trước đây đặt dưới quyền chỉ huy của đề đốc do một quyết nghị chung của đồng minh ở Ta-kou, gồm 800 người[14], nay đem xáp nhập vào binh đoàn viễn chinh. Một sĩ quan tùy viên quân sự của bộ tổng tham mưu được biệt phái thêm cho binh đoàn [15]để bảo quản việc điều động quân lính và thực thi quân kỷ trong các cơ quan. Công tác lập doanh trại, cứu thương, lương thực sẽ do ủy ban kế toán quân đội đảm trách, ủy ban do một vị phụ tá quân nhu trưởng chỉ huy. Sở ngân khố và bưu điện được thiết lập thường trực tại Saĩgon. Một viên chức liên lạc được đặt tại Singapour để tiếp nhận công hàm, văn thư từ Âu châu chuyển sang Nam kỳ.

Như vậy là binh đoàn viễn chinh đã được tổ chức xong. Nếu kể thêm đội thủy quân bộ chiến sẵn có trong thành phần quân lính đóng tại Saĩgon, cùng với ban chỉ huy đã thành thạo của đội ngũ này, thì số binh đoàn nhỏ tại Nam kỳ cũng đã tăng lên đến bốn ngàn người. Hiển nhiên đây là một quân đoàn đủ sức tiến lên, chiến đấu, cắm quân và tiếp tục chiến đấu nữa; không như các toán quân mà sáng thì đổ bộ, chiều phải rút về điểm xuất phát, nếu muốn sống còn.

Kinh nghiệm ở bắc nước Tàu đã cho thấy sự ích lợi của phu khuân vác người Tàu. Dưới khí hậu nóng bức, nhiểm độc vì bịnh sốt rét kinh khiếp này, bọn cu-li lại còn cần thiết hơn nữa. Vì thế ta có chiều hướng đặt người Âu châu giữ vai trò chiến đấu mà thôi. Một đội quân đánh thuê gồm 600 người được tuyển mộ và huấn luyện do đại úy hải quân chỉ huy trưởng Canton là Coupvent-Debois đảm trách.

Tiền bạc, lương thực, than được tồn kho và phân chia cất giữ ở Hong-kong, theo những chỉ thị và tiêu chuẩn đặc biệt thích nghi và phù hợp cho nhu cầu của cuộc viễn chinh Nam kỳ. Chuẩn thủy sư đề đốc Page nhận chỉ thị phải cho lịnh các tàu chiến từ Pháp sắp đến đây phải chuyển vào Hong-kong mười ba ngàn đồng tiền Mễ tây cơ mà các tàu này mang theo. Chiến thuyền Persévérantegiữ trọng trách cất giữ số tiền đã được chia cho Pháp quy định trong hiệp ước Tien-tsin và thỏa ước Bắc kinh. Bốn trăm ngàn khẩu phần lương thực tồn trử ở Hong-kong xem như đã đủ cho số lượng phòng cơ. Tất cả các tàu chuyên chở lương thực phải được gởi về Saĩgon. Trong số 8 000 tấn than trên các tàu của chính phủ Pháp thuê đang cặp bến Hong-kong, thì 4 000 tấn được chuyển lên bờ, 4 000 tấn còn lại phải chở đến Saĩgon.

Ðể kết thúc bảng thống kê chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Nam kỳ cũng phải kể ra đây phần đóng góp của nước Tây ban nha.Trước đây đội ngũ người Tây ban nha đóng tại Saĩgon thu hẹp chỉ còn 230 bộ binh. Phó thủy sư đề đốc Charner thông báo các việc đang được chuẩn bị và đã được thực hiện đến đại tá đại diện toàn quyền Hoàng gia Thiên Chúa Tây ban nha là Palanca Gutierrez, cùng viên toàn quyền Phi luật tân. Sau đây là lời ông nói với đại tá Palanca, người mà ông vẫn giữ mối liên lạc cá nhân quí mến và thân thiện:’’Người Tây ban nha là những người đồng minh chớ không phải là thành phần phụ thuộc. Nhưng không thể nào có chuyện phân chia lãnh thổ Saĩgon được. Phải chờ sau này và ở một nơi khác, tức là Bắc kỳ[16], thì Tây ban nha mới có thể được đền bù cho sự hy sinh vinh quang của mình. Ðó là tinh thần các chỉ thị của Hoàng đế Nã phá luân ban xuống’’. Còn về việc đánh nhau thì đề đốc kêu gọi đến tinh thần nhất trí. Ông tin vào sự hợp tác mà vị toàn quyền Tây ban nha hứa hẹn. Nói với đại úy đại diện Phi luật tân, vị thủ lãnh viễn chinh cũng đòi hỏi một tinh thần như vừa kể. Theo thứ tự ưu tiên ông đòi phía Tây ban nha phải gởi thêm cho ông 150 kỵ binh, 400 lính bộ và 300 thủy binh gốc người Tagal [17]Manille phải đặc biệt cung ứng 150 kỵ binh cả người và ngựa; cũng dễ hiểu là vai trò của kỵ binh rất hữu ích ở Nam kỳ. Sự tăng viện này đã không hề xảy ra. Nhưng bù lại, đề đốc tìm thấy nơi đại tá Palanca Gutierrez một sự hợp tác trung thành và nhiệt tâm, điều này giúp ông có thể tin cẩn vào tinh thần hào hiệp của vị sĩ quan Tây ban nha.

Tất cả các công tác không liên quan gì đến chiến dịch viễn chinh cũng được giải quyết ở Woo-sung. Các Chiến hạm Prégent, Dordogne, Gironde lên đường thực hiện công tác riêng. Chiến hạm Prégentđược biệt phái đến Fou-chow-fou, trên bờ biển Fo-kien để nhận tiền bồi thường cho nước Pháp đã được quy định trong hiệp ước Bắc kinh. Chuyện này thật gai góc, nhưng đã được thực hiện tốt và thành công. Tàu Prégent là chiến hạm Pháp đầu tiên xuất hiện trên sông Min, hai bên bờ sông là thành phố Fou-chow. Tàu Dordogneđến Nhật bản, nơi đây tình trạng của các nhà ngoại giao và lãnh sự ở Yeddo, vừa được cải thiện chưa được vài ngày nhờ sự hiện diện quân sự của Pháp và Anh đặt dưới quyền chỉ huy của các chuẩn đề đốc Page và Jones, lại đột nhiên trở lại cảnh như trong tù. Tàu Girondeđi Bang-cock để đón các sứ thần Xiêm la.

Những công tác chuẩn bị sau cùng được tận lực thúc đẩy. Các chiến thuyền hư hại[18]đều cặp bến an toàn ở vũng tàu Shang-haĩ để sửa chữa. Từ 15 đến 21 tháng giêng, thủy thủ đoàn và thiết bị lần lượt cho lên tàu để lên đường đi Saĩgon.Ngày 24 tháng giêng vị tổng chỉ huy rời Woo-sung, ngày ông rời Woo-sung ông đã quyết định từ trước. Vừa lúc chiến hạm Impératrice-Eugéniecủa đề đốc vượt cửa sông Yang-tze-kiang, thì tàu Dryadedo chuẩn thủy sư đề đốc Protet chỉ huy cũng vừa tiến vào cửa sông để cặp bến Shang-haĩ.

Tàu Impératrice-Eugénie chỉ ghé Hong-kong có bốn hôm để nghỉ ngơi. Tại Hong-kong tất cả đã được chuẩn đề đốc Page sửa soạn chu đáo từ trước, còn chính ông thì đã đến Nhật được hai mươi ngày rồi. Các tàu FuséeCalvadosvẫn còn tiếp tục sửa chữa. Thủy quân đánh bộ được chuyển nhanh chóng lên tàu Impératrice-Eugénieđể tàu nhổ neo đi Nam kỳ. Ngày 7 tháng 2 tàu ngược sông Don-naĩ, hai bên bờ sông cây cỏ xanh tươi và bằng phẳng, tàu thả neo trên sông trước mặt thành phố Saĩgon



[1]Tức là nước Nga, (ghi chú của người dịch).

[2]Nước Anh và nước Pháp liên kết đi đánh Tàu, (ghi chú của người dịch).

[3]Tức Nã phá luân đệ tam, (ghi chú của người dịch).

[4]Thật ra thì vào lúc đó, tình thế của Saĩgon đã dươc cải thiện, nhưng vị chỉ huy trưởng Quảng châu buộc phải tuân lịnh của Tổng tư lịnh gởi đi từ tháng 7 năm 1860 bắt phải chuyển một đại đội bộ binh đến Saĩgon. Trong khi ấy trại quân Saĩgon vừa được bổ xung một trăm thủy quân chiến đấu do tàu Weser chở tới. Hai trăm quân bổ xung khác sẽ cònđược liên tục chở đến sau.

[5]Mỗi dặm là 4,445 km (ghi chú của người dịch).

[6]Ðó là dấu hiệu trọng vọng lớn lao, nhưng hơi khác với cờ của tổng tư lịnh trong hải quân, cũng gần giống như vậy, (ghi chú của tác giả).

[7]Ðệ nhất đế chế: là chế độ chính trị Pháp từ tháng 5 năm 1804 đến tháng 4 năm 1814, Nã- phá-luânđệ nhất làm hoàng đế (ghi chú của người dịch).

[8]frégate de premier rang :loại lớn có 3 cột buồm (ghi chú của người dịch).

[9]frégate de deuxième rang :loại nhỏ hơn có hai cột buồm (ghi chú của người dịch).

[10]Tiếc quá, tác giả chẳng tìm được cô gái Tàu nào ở Thượng hải sao? Ðây là cách viết của tác giả để tự ám chỉ mình một cách kín đáo ? (ghi chú của người dịch).

[11]Câu này cho ta đoán có thể tác giả là người ở trên Chiến hạm Impératrice-Eugénie, hoặc thuộcđạo quân thủy binh đánh bộ được đưa lên tàu đi Nam kỳ, (ghi chú của người dịch).

[12]‘’Hoàng đế quyết định hôm nay ở hội đồng chính phủ truyền cho thống chế bộ trưởng chiến tranh ra lịnh bằng văn thư ngày tức khắc cho đại tướng Montauban để bàn thảo và hội ý với ông trong mục đích chiếm giữ cho nước Pháp vị trí thật quan trọng là Saĩgon.’’

Và kế tiếp:’’Hoàng đế, ông biết không, đã sai viết thư cho đại tướng Montauban bảo ông này phải đặt dưới quyền của ông 1 800 quân’’

( Hai đoạn trên trích từ 2 công văn của bộ trưởng hải quân gởi cho phó thủy sư đề đốc Charner, ngày 26 tháng 9 và 10 tháng 12 năm 1860).

[13]Sĩ quan Lính Ngựa

Bộ binh ---------------- 39 709 22

Bộ binh người Phi châu 3 29 31

Pháo binh--------------- 15 316 184

Công binh--------------- 4 77 13

Hậu cần------------------ 24 172 22

[14]Ðại tướng O’Malley, trên nguyên tắc, phải rời bỏ Tien-tsin cùng với trung đoàn chiến đấu 101 đến Saĩgon. Nhưng việc này không được thực thi đúng như vậy, vì sauđó đại tướng lữ đoàn de Vassoigne (thủy binh bộ chiến) được chỉ định bằng công hàm bộ trưởng giữ chức phó chỉ huy trong binh đoàn viễn chinh đánh chiếm Nam kỳ. ‘’...Tôi có sai tham mưu trưởng bộ tổng tham mưu viết thư cho đại tướng O’Malley, ngay khi có thể thực hiện được, sẽ cùng với tiểu đoàn chiến đấu 101 đến Saĩgon xáp nhập với ông.’’ (Trích thư của đại tướng Cousin-Montauban gởi cho phó thủy sư đề đốc Charner, ngày 14 tháng giêng 1861).

[15]Vị chỉ huy trưỏng kỵ binh của Bộ tham mưu được chỉ định giữ chức vụ này, và một đại úy cũng của Bộ tham mưu làm phụ tá cho ông.

[16]Câu ‘’hớ’’ này cho biết ý đồ của người Pháp sẽ đánh chiếm hết xứ An nam, chớ không phải chỉ nhắm vào hai tỉnh Gia Ðịnh và Ðịnh Tường, (ghi chú của người dịch).

[17]Người Phi luật tân gốc Mã lai, (ghi chúcủa người dịch).

[18]Gồm các chiến hạm : Dragonne, Mitraille, Alarme, Prégent, Alom-prah.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/11/2022(Xem: 400)
Tình tự quê hương như là chất liệu để nuôi sống đời mình, nên Hòa Thượng Tuệ Sỹ chỉ ở đó mà không đi đâu hết. Sinh ra giữa lòng đất Mẹ, chắc một ngày mai kia có chết, thì chết trong giữa lòng đất mẹ ấy, mà đã không ra đi như bao người đã ra đi. Có lẽ sinh ra nơi nào thì chết ở nơi đó. Đây là cái khí khái của bậc Đại Sỹ. Dù quê hương có đọa đầy mưa nắng, thì cũng nguyện là người làm mưa nắng để vun xới cho quê hương được tươi mát.
13/03/2022(Xem: 10468)
Hành hương và chiêm bái Phật tích Ấn Độ là nhân duyên hy hữu và là một ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật trên khắp năm châu bốn bể. Nay ước mơ đó đã đến với Tăng Ni và Phật tử Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Như chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức đã lên đường đúng vào ngày 7-11 năm 2006. Phái đoàn do Đại Đức Phó Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu An Hậu Tony Thạch (Giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth và 5 đến từ Texas, Cali, Hoa Kỳ.
09/02/2022(Xem: 10151)
Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam Sử Lược (trọn bộ hai tập, do Hòa Thượng Giới Đức biên soạn)
08/01/2022(Xem: 2869)
Bengal cổ đại là một trung tâm chính của Phật học, nghệ thuật và chủ nghĩa đế quốc; quả thực, đạo Phật là nền tảng của di sản văn hóa và ngôn ngữ của Bengal - bài thơ đầu tiên ở Bengali là Charyapada, được sáng tác bởi Chư tôn thiền đức Tăng già Phật giáo thời bấy giờ. Các Charyapada là tập hợp các bài thơ Thần kỳ, những bài tán thán sự chứng ngộ trong Kim Cương thừa truyền thống của Phật giáo mật tông ở các nơi Assam, Bengal, Bihar và Orissa. Theo các học giả đương đại, thuật ngữ Dharma trong tiếng Bengal có nghĩa là "Bauddha Dharma" (Buddhadharma) hoặc Phật pháp (佛法) và thuật ngữ Dharmapuja có nghĩa là "Buddhapuja". Khi Phật giáo bắt đầu suy tàn ở nhiều nơi khác nhau của Ấn Độ, nơi trú ẩn cuối cùng của Phật giáo là ở Bengal.
08/01/2022(Xem: 3864)
Các trung tâm giáo dục Phật giáo ở Ấn Độ và Sri Lanka như Đại học Phật giáo Nālanda và Đại học Phật giáo Mahāvihāra đã đem lại một nguồn năng lượng trong sự nghiệp giáo dục tuyệt vời. Không chỉ duy trì mạng mạch Phật giáo, các trung tâm giáo dục Phật giáo còn tạo ra một xã hội hòa bình ở hầu hết các quốc gia châu Á trong hơn 25 thế kỷ qua.
04/01/2022(Xem: 3837)
Đại Bảo tháp tại Sanchi được kiến tạo vào thời trị vì của vị minh quân thánh triết Ashoka, nhân vật vĩ đại trong lịch sử của Ấn Độ, vị vua Phật tử hộ trì chính pháp Phật đà, người đã có công trải rộng và phát triển giáo pháp đức Phật trong suốt những năm ông ta trị vì; và luôn luôn mong mỏi được truyền bá khắp 5 Châu 4 bể. Một cấu trúc vòm bằng gạch, được xây dựng theo kiểu mẫu vũ trụ Phật giáo. Xuyên qua tam vòng tròn là một cột trụ vươn lên, qua đỉnh vòm, tượng trưng cho cột đỡ vũ trụ. Trên cùng của nó là 3 đĩa tròn, biểu thị Tam bảo (ba ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng), được xem là một trong những khu kiến trúc bằng đá cổ nhất Ấn Độ, những di tích Phật giáo tại Sanchi là những miêu tả kinh điển cho nghệ thuật và kiến trúc của triều đại Maurya dưới hình thức Bảo tháp (Stupa), những ngôi tự viện linh thiêng của đạo Phật.
31/03/2021(Xem: 6834)
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
18/01/2021(Xem: 5461)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
13/09/2020(Xem: 7438)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
13/02/2020(Xem: 6671)
Sau khi Đức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đã chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sĩ, nông, công, thương, mọi tầng lớp của xã hội Ấn đều thừa hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Đến cuối đời của Ngài, Chánh pháp đã có mặt ở khắp Ấn Độ và lan tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông Hằng đi về phía Đông, phía Nam tới bờ sông Caodaveri, phía Tây tới bờ biển Á-rập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lý Phật-đà, và người dân nơi ấy sống trong sự hòa bình và hạnh phúc. Trong triều đại của Hoàng Đế Asoka thuộc Vương Triều Maurya (thế kỷ thứ III trước TL), Phật giáo đã bắt đầu truyền bá sang các vùng biên giới của đại lục.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,192,825