Vài nét về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

27/11/202520:50(Xem: 2753)
Vài nét về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

ht tinh khiet

VÀI NÉT VỀ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT


1. THỰC THỂ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT TRONG LÒNG ĐẠO PHÁP, DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI:

Từ thuở bình minh dựng nước, Phật giáo đã có mặt với Dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hiến nước nhà. Trải qua bao độ hưng suy, đi qua bao nhiêu triều đại thì Phật giáo vẫn thực hiện sứ mạng truyền bá chánh pháp, gìn giữ nền đức lý của Dân tộc, tạo nên nét đẹp của Đạo Phật Việt giữa lòng quê hương.

Đến thời Pháp thuộc, Phật giáo bị đối xử bất công bởi đạo dụ số 10.
Giữa lúc nước nhà trong cảnh lầm than, phong trào chấn hưng Phật giáo được phát khởi từ Tổ sư Khánh Hòa, lan rộng khắp ba miền để hướng dẫn tứ chúng quay về con đường chánh pháp.

Lợi dụng đạo dụ số 10, Tổng thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất cộng hòa tiếp tục công cuộc đàn áp Phật giáo với những chính sách bất công, bất bình đẳng đối với tín đồ Phật giáo, những tín đồ nhiệt thành với Phật sự, có ảnh hưởng trong quần chúng đều bị thủ tiêu, tù đày, nhiều cái chết đau thương của Phật giáo đồ khắp nơi trong nước, nhất là tại miền Trung.
Đỉnh điểm của sự đàn áp đó là công điện 9195 (ngày 06.05.1963) về việc cấm treo cờ Phật giáo trong đại lễ Phật đản năm Quý Mão, như giọt nước tràn ly, Phật giáo đồ đã biểu thị tinh thần vệ đạo của mình qua đoàn rước Phật đại lễ Phật đản năm 1963 từ chùa Diệu Đế lên Chùa Từ Đàm, Huế với các biểu ngữ kêu gọi bình đẳng tôn giáo. Nổi bi thương tràn ngập cả nước, lòng đau đớn tột cùng khi chính quyền nhà Ngô ra lệnh đàn áp Phật giáo đồ tại Đài Phát thanh, Huế khi Phật tử tập trung nghe phát chương trình Lễ Phật đản như thường niên, trong đêm kinh hoàng đó sát hại 08 em Đoàn sinh GĐPT và hàng trăm người bị thương.
Trước cảnh tang thương mà Phật giáo đồ phải gánh chịu, Chư tôn Trưởng lão, các bậc thạch trụ tòng lâm đã chống tích trượng, cầm gậy trúc hạ sơn, rời trượng thất để an ủi tín đồ, cầu nguyện cho Phật giáo Việt Nam trước cơn Pháp nạn, tứ chúng đồng lòng bảo vệ chánh pháp dù phải hy sinh thân mạng bằng tinh thần bất bạo động. Thượng tọa Thích Trí Quang, Hội trưởng Phật giáo Trung phần đã thừa hành Tăng sai mà đứng ra lãnh đạo Phật giáo đồ tiến hành cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng.
Từ Kinh thành Huế, cuộc vận động lan dần đến các địa phương từ Quảng Trị đến Cà Mau, các hệ phái Phật giáo Việt Nam hợp quần, Tăng, Ni, Phật tử đoàn kết, Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo ra đời tại Sài Gòn do Thượng tọa Thích Tâm Châu lãnh đạo, quần chúng hưởng ứng, quân nhân Phật tử đồng lòng, các đoàn thể dù không phải Phật giáo ủng hộ, Liên hiệp quốc can thiệp, cộng đồng quốc tế lên tiếng bênh vực vì cuộc vận động có chính nghĩa. Trước cảnh Phật giáo bị đàn áp, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã phát nguyện vị pháp thiêu thân , Chư Tăng, Ni, Phật tử noi theo hạnh nguyện của Bồ-tát lập hạnh thiêu thân cúng dường, nguyện giải trừ pháp nạn. Dù bao lời cảnh tỉnh được cất lên nhưng chính quyền vẫn vô tâm, tiếp tục mở “chiến dịch nước lũ” tấn công vào các chùa, bắt hàng trăm ngàn Tăng, Ni, Phật tử cầm tù, thủ tiêu, sát hại, khủng bố, bao vây các cơ sở tự viện, nhưng Phật giáo một lòng đoàn kết, chịu đựng, hy sinh. Cuộc vận động kéo dài cho đến ngày 01.11.1963 khi Quân đội đảo chính, nền đệ nhất cộng hòa sụp đổ.
Từ ngày 30, 31 tháng 12 năm 1963 đến ngày 1,2 tháng 01 năm 1964, tại Chùa Xá Lợi, Sài Gòn, Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo cùng các hệ phái Phật giáo tiến hành Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam. Bằng tinh thần hòa hợp của hai Tông phái và 11 hệ phái Phật giáo, Đại hội đã thành lập GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT, thông qua bản Hiến chương của Giáo hội với 11 chương và 32 điều, đã được 11 vị Trưởng phái đoàn các hệ phái, hội đoàn duyệt nhận ký tên:
- Trưởng phái đoàn Giáo hội Tăng-già Nguyên thủy : Đại đức Giới Nghiêm
- Trưởng phái đoàn Giáo hội Tăng-già Trung phần : Thượng tọa Thích Trí Thủ
- Trưởng phái đoàn Giáo hội Thiền Tịnh đạo tràng : Thượng tọa Thích Pháp Triều
- Trưởng phái đoàn Giáo hội Tăng-già Nam việt : Thượng tọa Thích Trí Tịnh
- Trưởng phái đoàn Giáo hội Tăng-già Bắc việt : Thượng tọa Thích Tâm Giác
- Trưởng phái đoàn Giáo hội Tăng sĩ Theravada : Đại đức Thạch Gồng
- Trưởng phái đoàn Hội Phật giáo Nguyên thủy : Đh. Nguyễn Văn Hiểu
- Trưởng phái đoàn Hội Phật học Nam việt : Đh. Chánh Trí – Mai Thọ Truyền
- Trưởng phái đoàn Giáo phái Theravada : Đh. Sơn Thái Nguyên
- Trưởng phái đoàn Hội Phật giáo Việt Nam Trung phần : Đại đức Thích Đức Tâm
- Trưởng phái đoàn Hội Việt Nam Phật giáo (Bắc phần) : Đh. Viên Trạm – Vũ Bảo Vinh
Đại hội đã cung thỉnh Đức đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đăng lâm bảo vị Đệ nhất Tăng Thống GHPGVNTN, tín nhiệm bầu Thượng tọa Thích Tâm Châu giữ trách nhiệm Viện Trưởng Viện Hóa đạo.
Theo Hiến chương, hệ thống GHPGVNTN tại Trung ương có 02 Viện đó là: Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo. Trong đó:
Viện Tăng thống có Hội đồng Giáo phẩm Trung ương và Văn phòng Viện Tăng thống.
Viện Hóa đạo lãnh đạo và điều hành hết thảy các ngành hoạt động của GHPGVNTN với cơ cấu bao gồm:
- 1 Viện trưởng (Tăng sĩ)
- 2 hay 3 Phó Viện trưởng
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ cư sĩ
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Từ thiện xã hội
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Kiến thiết
- 1 Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh
- 1 Tổng Thư ký
- 1 Phó Tổng thư ký
- 1 Tổng Thủ quỹ
- 1 Phó Tổng thủ quỹ
(Tất cả các vị trên hợp lại thành Ban Chỉ đạo Viện Hóa đạo GHPGVNTN)
Mỗi vị Tổng vụ trưởng được mời 01 hoặc 02 vị làm Tổng vụ phó. Mỗi Tổng vụ điều hành Phật sự dưới sự góp sức của các Vụ chuyên trách, đứng đầu mỗi Vụ là Vụ trưởng.
Để đôn đốc và kiểm tra Phật sự tại các Tỉnh, Giáo hội thiết lập tám Miền, lấy pháp hiệu của tám vị Cao Tăng Việt Nam để vinh danh Phật sự tại các Miền và đứng đầu là Chánh diện GHPGVNTN tại Miền:
- Miền Vạn Hạnh (Bắc trung nguyên Trung phần)
- Miền Liễu Quán (Nam trung nguyên Trung phần)
- Miền Khuông Việt (Cao nguyên Trung phần)
- Miền Khánh Hòa (miền Đông Nam phần)
- Miền Huệ Quang (Tiền giang Nam phần)
- Miền Khánh Anh (Hậu giang Nam phần)
- Miền Vĩnh Nghiêm (Phật tử miền Bắc)
- Miền Quảng Đức (Thủ đô Sài gòn)
Tại mỗi Tỉnh, Thị xã (biệt lập hành chánh), hay Quận tại Thủ đô, có một Giáo Hội Tỉnh, Thị Xã hay Quận Đô Thành trực thuộc Viện Hóa Đạo, được điều khiển bởi một Ban Đại Diện gồm có:
- 1 Chánh Đại diện (Tăng Sĩ ).
- 2 Phó Đại diện.
- 1 Đặc ủy Tăng sự.
- 1 Đặc ủy Hoằng pháp.
- 1 Đặc ủy Văn hóa.
- 1 Đặc ủy Giáo dục.
- 1 Đặc ủy Cư sĩ.
- 1 Đặc ủy Từ thiện Xã hội.
- 1 Đặc ủy Thanh niên.
- 1 Đặc ủy Tài chánh.
- 1 Đặc ủy Kiến thiết.
- 1 Thư ký.
- 1 Phó Thư ký.
- 1 Thủ quỹ.
- 1 Phó Thủ quỹ.
Đơn vị của Giáo hội là Xã, Ấp (tại các Tỉnh) và Phường, Khóm (tại các Đô thị). Tất cả các Chùa, Tăng sĩ và Cư sĩ thuộc các Tông Phái tại các đơn vị này liên hiệp với nhau thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các Xã, Ấp hay Phường, Khóm. Trụ sở đặt tại Một Chùa hay một nơi thuận tiện. Tại các Xã, Ấp hay Phường, Khóm có Một Ban Đại Diện gồm có:
- 1 Chánh Đại diện.
- 2 Phó Đại diện.
- 1 Thư ký.
- 1 Phó Thư ký.
- 1 Thủ quỹ.
- 1 Phó Thủ quỹ.
- 4 Cố Vấn Kiểm Soát.

Trong suốt hành trình 11 năm từ năm 1964 đến năm 1975, Giáo hội đã tỏ rõ lập trường phi chính trị, xây dựng tinh thần hòa hợp, gìn giữ lý tưởng mà Giáo hội xác lập trong Lời mở đầu của Hiến chương GHPGVNTN. Nhờ vậy, Giáo hội đã vượt qua những mưu kế phân hóa, đứng vững trước những thủ đoạn phá sự hòa hợp của tứ chúng đệ tử Phật, và tiếp tục hóa giải những thủ đoạn đàn áp Phật giáo vào những năm 1966 – 1967. Thành quả của Giáo hội trong thời gian này có thể ghi lại vài số liệu:

- Xây dựng cơ sở Giáo hội từ Trung ương đến các địa phương, trải dài từ Quảng Trị đến Cà Mau, nơi nào cũng kiến thiết cơ sở tự viện, công cử các vị Giảng sư về các địa phương hướng dẫn đời sống tu học.

- Tại Hải ngoại, Giáo hội đã thành lập được 11 chi bộ GHPGVNTN tại các quốc gia: Pháp, Đức, Nhật, Ấn Độ, Anh, Mỹ, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, Thụy Sĩ, Gia-Nã-Đại.
- Mở rộng các mối quan hệ với cộng đồng Phật giáo Thế giới.
- Thành lập Hội đồng Phiên dịch Đại tạng Kinh Phật giáo Việt Nam.
- Trên toàn quốc (miền Nam Việt Nam) có: 01 Viện Đại học Vạn Hạnh với 04 Phân khoa, 81 Giáo sư, 3210 Sinh viên, và 20 Sinh viên Tăng, Ni du học ngoại quốc; Giáo hội điều hành 21 Phật học viện với 977 Tăng, Ni sinh, bao gồm: 01 Cao đẳng Phật học viện, 02 Phật học viện Trung đẳng đệ nhị cấp, 12 Phật học viện Trung đẳng đệ nhất cấp, 01 Phật học viện Nam tông, 04 Phật học Ni viện; Giáo hội tham gia vào công tác Giáo dục các học sinh Phật tử (theo chương trình của Bộ Quốc gia Giáo dục và có môn Giáo lý), trên toàn quốc có 137 Trường Bồ-đề và Mẫu giáo Kiều Đàm, có 58,466 học sinh bao gồm: 46 Trường Bồ-đề trung học đệ nhất cấp, 19 Trường Bồ-đề trung học đệ nhị cấp, 62 Trường tiểu học Bồ-đề, 11 Trường mẫu giáo Kiều Đàm sơ cấp . Vạn Hạnh đại học vang danh một thời, hệ thống các Trường Bồ-đề chính là niềm tự hào của những thế hệ học sinh được gắn bó dưới mái trường Phật giáo thân thương.

- Công tác từ thiện xã hội: Theo thống kê năm 1971 của Viện Hóa đạo, Giáo hội các cấp điều hành 09 Cô nhi viện nuôi dạy 1780 em, 14 ký nhi viện nuôi dạy 2446 em, 03 Cô ký nhi viện nuôi dạy 507 em, 01 dưỡng lão viện nuôi dưỡng 30 vị, 06 bệnh xá, 02 chẩn y viện,…
- Về lĩnh vực văn hóa: xây dựng 01 Thư viện tại Đại học Vạn Hạnh, 10 Thư viện tại các Phật học viện và Trường Bồ-đề; sưu tầm và lưu trữ về văn hóa Phật giáo: văn chương, nghi lễ, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, mỹ thuật; tổ chức Đại hội Văn hóa Phật giáo; xuất bản các ấn phẩm văn hóa Phật giáo qua các hệ thống nhà xuất bản, nhà in do GHPGVNTN trực tiếp điều hành;…
- Giáo hội rất quan tâm đến việc giáo dục tuổi trẻ theo tinh thần Phật giáo, Tổng vụ Thanh niên thừa hành Phật sự của Giáo hội giao phó, trực tiếp giáo dưỡng Thanh, Thiếu, Đồng niên tại 06 vụ đó là: Gia Đình Phật Tử vụ, Sinh viên Phật tử vụ, Học sinh Phật tử vụ, Thanh niên Phật tử vụ, Hướng đạo Phật tử vụ, Thanh niên Phật tử Thiện chí vụ.
Sau năm 1975, GHPGVNTN phải chịu nhiều khổ nạn, những chủ trương về Tôn giáo của nhà nước đặt Giáo hội trước tình cảnh bị bức tử vì lập trường không xu phụ thế quyền, không để chính sự xen lẫn vào công cuộc hoằng pháp, nên từ đó: Viện Đại học Vạn Hạnh, các trưởng Bồ-đề, Mẫu giáo Kiều Đàm bị đóng cửa, Cô Ký nhi viện bị giải tán, cơ sở của Giáo hội bị trưng dụng, Văn phòng Viện Hóa đạo bị cưỡng chiếm và đốt hồ sơ trong 5 ngày. Chư tôn đức trong Hội đồng Lưỡng viện: người thì bị bức tử trong nhà giam như Hòa thượng Thích Thiện Minh, còn quý Ngài: Hòa thượng Thích Huyền Quang bị quản chế tại Quảng Ngãi, Hòa thượng Thích Quảng Độ bị quản chế tại Thái Bình mà không thông qua các phiên tòa, kết án tử hình hai ngài Tuệ Sỹ và Trí Siêu – Lê Mạnh Thát, các vị Ủy viên Công cán của Giáo hội cũng bị tù giam hoặc quản thúc như: Thầy Liễu Minh, Thầy Minh Tâm, Thầy Hạnh Hải,…và còn một số vị tôn đức vượt biên ra Hải ngoại, đau xót nhất là nhiều vị đã bước sang thuyền khác để từ đó có GHPGVN.
Tiếp nối sự lãnh đạo GHPGVNTN của Đức đệ nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết, và Đức đệ nhị Tăng thống Thích Giác Nhiên, trong giai đoạn vô cùng khó khăn Đức đệ tam Tăng thống Thích Đôn Hậu đã bảo trì ấn tín, nêu cao lý tưởng Đạo thống cương duy, gìn giữ lập trường “thống nhất Phật giáo phải do nội bộ Phật giáo thực hiện”, nên Ngài kiên quyết từ chức Đại biểu Quốc hội và Phó Pháp chủ GHPGVN. Năm 1991, trước khi viên tịch Đức đệ tam Tăng thống đã có tâm thư gửi Chư tôn đức Tăng, Ni hành đạo tại Hải Ngoại để kêu gọi: “Hãy cùng nhau thể hiện tinh thần tương kính, tương thuận, tương giáo, tương sám như luật dạy. Hãy vì sự tồn tại của Giáo hội, vì sự quang vinh của Đạo pháp và Dân tộc mà gạt bỏ những quan điểm dị biệt để cùng nhau hoằng dương chánh pháp, Ngài đã ủy thác Phật sự Giáo hội cho chư vị tôn đức trong Viện Hóa đạo tiếp nối. Tại tang lễ của Đức đệ tam Tăng thống, Hòa thượng Thích Nhật Liên đã phụng hành ý chỉ của Tôn sư cung kính trao ấn tín, chúc thư đến Hòa thượng Thích Huyền Quang – Quyền Viện trưởng Viện Hóa đạo tiếp nối Phật sự, duy trì mạng mạch của Giáo hội.

Khi Chư tôn đức Tăng, Ni và cộng đồng Phật tử Việt Nam có mặt tại Hải ngoại thì Phật sự của GHPGVNTN được phát triển với sự hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hoa Kỳ, Úc-Đại-Lợi và Tân-Tây-Lan, Âu Châu, Ca-na-da, công cuộc hoằng pháp được mở rộng đến các nước phương Tây, tứ chúng hành đạo tại các Châu/Quốc gia luôn hướng về hộ trì Phật sự của Giáo hội tại quê nhà.

Trong sứ mạng tiếp nối đạo nghiệp của Chư Tổ và Lịch đại Tăng thống GHPGVNTN, Hòa thượng Thích Huyền Quang đã chèo chống con thuyền Giáo hội vượt qua thác ghềnh, luôn khẳng định: “Pháp lý là gì? Là những giấy tờ chỉ được viết ra cho một tổ chức tân lập. Còn Giáo hội ta đã có mặt trên dãy đất này đã 2.000 năm rồi, Đinh – Lê – Lý – Trần đã chấp nhận Phật giáo, pháp lý của Giáo hội là 2.000 năm truyền đạo trên dãy đất Việt Nam này. Địa vị của Giáo hội là trên 80% dân chúng từ thành thị, nông thôn, hải đảo, đó là cơ sở vững chắc, rộng rãi, muôn năm của Giáo hội. Như vậy, pháp lý có thể cho ra và có thể thu lại, nên đừng đặt vấn đề pháp lý của thời đại, mà phải đặt lịch sử truyền đạo và sự chấp nhận của dân chúng Phật tử”. Lời khẳng định của Ngài được chứng minh qua thời gian, với sự lãnh đạo của Hòa thượng Thích Huyền Quang cùng Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ dưới sự tán trợ của Hòa thượng Thích Trí Quang và sự hộ trì của Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài nước, Giáo hội từng bước phục hoạt các Phật sự truyền thống trong điều kiện khó khăn. Ngày 02.04.2023, Thủ tướng Phan Văn Khải đã tiếp Hòa thượng Thích Huyền Quang, tại Phủ Thủ tướng, Ông Phan Văn Khải đã bộc bạch: “Xin Hòa thượng từ bi, hỷ xả cho chuyện đã qua vì cán bộ địa phương làm sai”, dù biết rằng cuộc tiếp xúc này có nhiều dụng ý, nhưng lời của Thủ tướng là cơ sở để Tăng, Ni, Phật tử trực thuộc GHPGVNTN biện luận với các cấp chính quyền khi được mời “đi uống trà”. Địa vị của Giáo hội được chứng minh khi hàng trăm ngàn Tăng, Ni, Phật tử khắp mọi miền đất nước cung đón Hòa thượng Thích Huyền Quang đi viếng thăm các chốn Tổ, sách tấn Tăng, Ni và Đồng bào Phật tử. Ngày 01.10.2003, Hòa thượng Thích Huyền Quang cùng nhị vị Hòa thượng Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ đã triệu tập Đại hội bất thường tại Tu viện Nguyên Thiều, một đại hội lịch sử sau 26 năm Giáo hội không đủ thuận duyên tổ chức Đại hội. Đại hội đã suy tôn Hòa thượng Thích Huyền Quang đăng lâm bảo vị đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN, Hòa thượng Thích Quảng Độ được cung thỉnh đăng lâm pháp tịch Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN. Từ Đại hội Nguyên Thiều, Giáo hội các cấp được củng cố dù trong hoàn cảnh vô vàn khó khăn, những cuộc đàn áp, quản chế Chư tôn đức Hội đồng lưỡng viện, phong tỏa các tự viện của Giáo hội vẫn tiếp diễn, các luận điệu vu khống, chụp mũ GHPGVNTN là tổ chức bất hợp pháp, phản động là hoàn toàn không có cơ sở.

Sau khi đức đệ tứ Tăng thống viên tịch, Hòa thượng Thích Quảng Độ được cung thỉnh đăng lâm bảo vị đệ ngũ Tăng thống GHPGVNTN. Tiếp nối truyền thống của Giáo hội, đức đệ ngũ Tăng thống đã tích cực vận động cho vấn đề dân chủ, nhân quyền của quê hương Việt Nam. Dù ở giai đoạn này với nhiều biến động trong nội tình của Giáo hội, nhưng bằng lòng tôn kính đối với Bậc Thầy mô phạm, một vị Tăng thống đức độ, thanh tịnh, cương trực nên Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài nước vẫn âm thầm hộ trì, chăm sóc Ngài, thể hiện tinh thần hiếu đạo với Giáo hội, và vị lãnh đạo tối cao đã tận hiến đời mình cho Phật pháp dù trải qua những năm tháng tù đày lao nhọc, mà chí nguyện của Ngài vẫn kiên cố, như lời Ngài Trí Quang thượng nhân tán thán: Pháp vương trung lương kiệt. Trong những năm tháng cuối đời, Đức đệ ngũ Tăng thống đã có 03 quyết định lịch sử để duy trì mạng mạch GHPGVHTN: ban hành Tâm thư 15 – Ước nguyện Tăng-già hòa hợp; Quyết Định số 12/TT/VTT/QĐ, v/v "Giải tán mọi nhân sự và chức vụ trong Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo nhiệm kỳ 2018-2020 ...", và "Trong thời gian chờ Viện Tăng Thống triệu tập Đại hội bất thường GHPGVNTN công cử nhân sự mới cho Viện Hóa Đạo, tạm ngưng mọi hoạt động của Viện Hóa Đạo cùng mọi nhân sự Ban Chỉ Đạo ..."; Quyết Định số 14/QĐ/TT/VTT, ấn ký ngày 24 tháng 5 năm 2019, v/v Ủy thác quyền Điều hành Viện Tăng Thống cho Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.

Khâm thừa di huấn của Đức đệ ngũ Tăng thống, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ điều hành Giáo hội trong hoàn cảnh thân lâm trọng bệnh, Giáo hội thiếu nhân sự. Trong những năm tháng cuối đời, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã thực hiện các Phật sự lịch sử của GHPGVNTN:
- Thành lập Ban Vận động hòa hợp Tăng-già do Hòa thượng Thích Đức Thắng làm Trưởng ban, và hiện nay là Hòa thượng Thích Minh Tâm đảm nhiệm Phật sự này.
- Cung thỉnh Chư tôn Trưởng lão trong và ngoài nước đăng lâm pháp tịch Thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Viện Tăng thống.
- Ngày 21.08.2022 tại Chùa Phật Ân, Hội đồng Giáo phẩm Trung ương đã cử hành Tăng nghị và cung thỉnh Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đăng lâm pháp tịch Chánh Thư ký Xử lý thường vụ Viện Tăng thống.
- Ngày 22.08.2022, Hòa thượng đã cử hành Lễ tiếp nhận ấn tín và khai ấn chính thức điều hành Phật sự GHPGVNTN.
- Tán trợ và cố vấn cho Hội đồng Hoằng pháp của GHPGVNTN tại Hải Ngoại do Hòa thượng Thích Như Điển làm Chánh Thư ký.
- Tiếp nối Phật sự phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam mà Viện Tăng thống đã thực hiện vào năm 1973, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã tái lập và thỉnh cử nhân sự bổ sung vào Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam do Ngài làm Chủ tịch, ngài Trí Siêu – Lê Mạnh Thát là Cố vấn. Sau khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch Hội đồng phiên dịch do Hòa thượng Thích Như Điển làm Chủ tịch, đến nay Hội đồng phiên dịch đã in và ấn tống 02 đợt Thanh văn tạng.
- Trong hoàn cảnh Giáo hội chưa có Viện Hóa đạo, việc tổ chức Đại hội chưa thể tiến hành, nhưng Phật sự không thể không làm nên Hòa thượng cùng Chư tôn đức trong Hội đồng Giáo phẩm Trung ương soạn thảo bản Quy chế lược yếu Hội đồng Giáo phẩm Trung ương và Văn phòng Viện Tăng thống, văn kiện này được thông qua tại Tăng nghị ngày 28.12.2023 tại Chùa Phật Ân.
Ngày 24.11.2023, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch tại Chùa Phật Ân, Long Thành, tứ chúng trong ngôi nhà GHPGVNTN trong và ngoài nước tôn phong ngài lên bảo vị đệ lục Tăng thống GHPGVNTN:
- Chư tôn đức trong Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Viện Tăng thống đã cử hành Tăng nghị và cung thỉnh Hòa thượng Thích Đức Thắng đăng lâm pháp tịch Chánh Thư ký Xử lý thường vụ Viện Tăng thống.
- Hòa thượng Thích Phước An lên ngôi vị Tăng Trưởng.
Dù bị đàn áp dưới nhiều hình thức nhưng Giáo hội vẫn tồn tại, do GHPGVNTN là một thực thể trong dòng sinh mệnh của Đạo pháp và Dân tộc. GHPGVNTN vẫn tồn tại bởi trong lòng Tăng, Ni, Phật tử khắp nơi vẫn luôn hướng về lập trường, lý tưởng mà Giáo hội đã tuyên dương và gìn giữ trước bao thế lực, tù đày.

2. THUYẾT MINH TỔ CHỨC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
2.1. Địa vị của GHPGVNTN trong các tổ chức Phật giáo Việt Nam khác:
- GHPGVNTN có một địa vị tôn giáo, vì đã vượt ra ngoài khuôn khổ hiệp hội của dụ số 10 sau Pháp nạn 1963.
- GHPGVNTN là một tổ chức gồm 2 giáo phái Phật giáo Nam Bắc tôn mà các tổ chức Phật giáo Việt Nam khác chưa có.
- GHPGVNTN không những phục vụ cho Đạo pháp như các Tôn phái Phật giáo Việt Nam khác mà còn phục vụ cho quê hương xứ sở nữa.
- GHPGVNTN không những phục vụ cho quê hương xứ sở mà còn cho Phật giáo Việt Nam hải ngoại và Phật giáo Thế giới.
- GHPGVNTN là một tổ chức sâu rộng và tiến bộ nhất của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thế giới.
2.2. Trách nhiệm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất:
GHPGVNTN có tư cách tổ chức quần chúng Phật tử không?
- Trách nhiệm đối với Phật tử: Tất cả các tổ chức Phật giáo chân chính đều tự nhận mình có tư cách và trách nhiệm đối với Phật tử nói riêng, đối với Đạo pháp nói chung. GHPGVNTN cũng có tư cách và trách nhiệm ấy. Tuy nhiên, trách nhiệm đơn phương chưa đủ, mà phải cần có sự ý thức của tất cả những người cùng có trách nhiệm. Đó là hàng Phật tử tại gia.
- Trách nhiệm đối với Giáo hội: Tất cả những người tin Phật tại gia thuộc các giáo phái Nam Bắc Tôn, ngoài bổn phận thờ kính Tam bảo, tu thân hành thiện, còn có nghĩa vụ đối với Giáo hội. Cũng như mọi công dân trong một quốc gia ngoài bổn phận đối với gia đình còn có nghĩa vụ đối với Tổ quốc.
2.3. Tư cách đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất:
GHPGVNTN có tư cách đại diện cho Phật giáo Việt Nam tại quốc nội và quốc tế không?
- GHPGVNTN có tư cách đại diện cho Phật giáo Việt Nam tại quốc nội và thế giới, từ trước đến nay vì có tính truyền thừa dung nghĩa.
- Tư cách ấy đã có từ lâu và chưa bị một tổ chức Phật giáo Việt Nam hay đoàn thể nào khác phủ nhận cả trong lẫn ngoài nước.
- GHPGVNTN có thành tích bảo đảm cho tư cách địa vị của mình mà hiện nay chưa có tổ chức Phật giáo Việt Nam nào hơn được.
Điều này không có ý tự tôn, lạm xưng, ngụy biện hay giả tạo mà là một sự thật. Nói một cách khác:
- Có tổ chức Phật giáo Việt Nam nào có một tiền thân có nhiều hậu thuẫn như Tổng hội Phật giáo Việt Nam trước pháp nạn 1963 và có một thành tích lịch sử hiển hách nhất như Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo trong pháp nạn 1963?
- Có tổ chức Phật giáo Việt Nam nào có một công nghiệp xứng đáng trong việc tranh thủ chủ quyền, xây dựng dân chủ và vận động hòa bình dù phải gặp nhiều gian nan nguy hiểm?
- Có tổ chức Phật giáo Việt Nam nào có một hệ thống đào tạo Tăng tài từ tiểu học đến đại học?
- Có tổ chức Phật giáo Việt Nam nào có đại diện tại các tổ chức Phật giáo Thế giới và có nhiều chi bộ tại hải ngoại?
- Có tổ chức Phật giáo Việt Nam nào có đủ đại diện các Tôn phái Phật giáo Nam Bắc Tôn kể cả Phật giáo Thế giới?
Tóm lại: ai có một quá khứ vẻ vang, một hiện tại vĩ đại với một tổ chức nhiều màu sắc sâu rộng và cùng khắp…người đó đương nhiên có tư cách đại diện cả trong lẫn ngoài nước mà không ai có thể dành được hay phủ nhận được.
2.4. Ý nghĩa của sự thống nhất:
Ý nghĩa của sự thống nhất như thế nào?
- Hai tôn phái Phật giáo Nam Bắc Tôn tại Việt Nam là thành phần sáng lập GHPGVNTN hồi sau pháp nạn 1963.
- Các hàng giáo phẩm và cư sĩ hữu công của hai tôn phái đều có mặt trong các cấp lãnh đạo của GHPGVNTN.
- Quần chúng Phật tử Nam Bắc Tôn thuộc mọi thành phần được tổ chức và quy tụ hòa hợp trong các đơn vị Giáo hội tại cơ sở hạ tầng Giáo hội.
- Mọi sinh hoạt tự trị của các tập đoàn giáo phái cũ của hai tôn phái Nam Bắc Tôn đã tự ý ngưng hoạt động và chuyển mọi hoạt động ấy dưới danh nghĩa của GHPGVNTN do các Ban đại diện Giáo hội các cấp lãnh đạo.
- Quyền lợi tôn phái được đặt dưới quyền lợi của GHPGVNTN.
- Giáo quyền tuy được tượng trưng là các hàng giáo phẩm tại một số cấp Giáo hội, nhưng vẫn được giao phó đầy đủ cho hàng cư sĩ tại các cấp giáo quyền cơ sở.
- Theo Hiến chương, nếp sống và phương pháp tu dưỡng của hai tôn phái vẫn được tôn trọng và phát triển. Không chủ trương đồng hóa mà chỉ chủ trương đoàn kết để cùng thống nhất trên lập trường phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.
Hơn 60 năm qua, GHPGVNTN vẫn giữ vững lập trường được tuyên dương từ ngày thành lập qua lời mở đầu của Hiến chương:
“Công bố lý tưởng hòa bình của giáo lý Đức Phật, các tông phái Phật giáo Bắc Tông và Nam Tông tại Việt Nam, thực hiện nguyện vọng thống nhất thực sự đã hoài bão từ lâu để phục vụ nhân loại và dân tộc: đó là lập trường thuần nhất của GHPGVNTN.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt, mà đặt sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc”.

NHIẾP SỰ VỤ THANH NIÊN

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/01/2026(Xem: 999)
Thiền sư Toàn Nhật, theo giáo sư Lê Mạnh Thát “là một nhà văn, nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà tư tưởng lớn, có những quan điểm độc đáo đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ 18, và cũng là một vị Thiền Sư đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam” [1]. Nhưng vẫn theo Giáo sư thì: “Cho đến nay, tên tuổi và sự nghiệp của ông đã bị chìm vào quên lãng.”
10/08/2025(Xem: 5794)
Đọc 160 trang sử Phật Giáo hay nói đúng hơn là Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh cũng như Lâm Tế Liễu Quán và Tào Động từ Quảng Bình vào đến Bình Định do Thầy Thích Như Tịnh đương kim Trụ Trì Viên Giác cổ tự tại Hội An Quảng Nam viết, cá nhân chúng tôi vô cùng thán phục. Bởi lẽ sau khi hình thành được tác phẩm giá trị về việc truyền thừa của Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh, Thầy Như Tịnh còn cố công sưu tập đi đến các chốn Tổ đã vang bóng một thời từ Quảng Bình, Quảng Trị, rồi đến Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định v.v… để tìm lại dấu chân xưa chư Tổ đã một thời trác tích.
02/04/2025(Xem: 5268)
Năm 2025 đánh dấu 50 năm (1975-2025) người Việt tị nạn Cộng Sản đã từ bỏ quê hương Việt Nam để tìm đến vùng đất tự do của Hoa Kỳ. Trong số khoảng từ 125,000 đến 130,000 người Việt tị nạn đầu tiên đến Mỹ ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có nhiều tu sĩ Phật Giáo.(1) Một trong những tiểu bang của Mỹ mà người Việt tị nạn đầu tiên đặt chân đến là California, hay nói chính xác là Căn Cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Pendleton (Marine Corps Base Camp Pendleton), nằm trong địa hạt Quận San Diego ở miền Nam California. Chính những người Việt tị nạn đầu tiên ở đây là những nhân tố hình thành cộng đồng người Việt tị nạn tại California sau này.
01/10/2023(Xem: 10203)
Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học trong đó có Ngài Khánh Hòa có liên đoàn Học Xã ra đời tức là hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập năm 1934 ở tại Bến Tre. Hội này quý Thầy giảng dạy cho chư Tăng, chư Ni cũng có những học đường, bắt đầu thỉnh Đại Tạng Kinh ở bên Trung Quốc về bây giờ chúng ta căn cứ theo Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Tại sao gọi là Đại Chánh? Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh có tất cả 100 tập. Từ tập 1 tới 65 có Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và những bộ kinh thuộc về Mật Tạng, Hòa Thượng Tịnh Hạnh cũng đã cho dịch ra thành 187 tập. Từ tập 188 cho đến tập thứ 202 nay mai sẽ được xuất bản. Riêng Thanh Văn Tạng nó có tính cách Hàn Lâm. Trong thời gian qua HT Tuệ Sỹ đã cho dịch thành Thanh Văn Tạng rồi trong tương lai sẽ có Bồ Tát Tạng, tiếp theo nữa sẽ là Mật Tạng.
04/07/2023(Xem: 11716)
Hôm nay ngày 22.6.2023. Trước đây thầy Hạnh Tấn làm Thư ký ở trong ban Hoằng Pháp của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Chỗ này tôi xin xác định một chút cho Quý Vị rõ về hai cơ cấu, hai vai trò không phải là một. Ôn Tâm Huệ là trưởng ban truyền bá giáo lý Âu Châu; Thầy Hạnh Tấn làm thư ký cho ban truyền bá giáo lý Âu châu thuộc về Hội Đồng Hoằng Pháp của giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Khi mà ôn Tuệ Sỹ thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp vào năm 2021
03/05/2023(Xem: 170078)
Chết và tái sinh. Thích Nguyên Tạng (sách, tái bản 2007) Phật giáo khắp thế giới . Thích Nguyên Tạng (sách) Pháp Sư Tịnh Không, người truyền bá giáo lý Tịnh Độ (sách) Từ bi và nhân cách . Dalai Lama. Thích Nguyên Tạng dịch (sách) Pháp ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không . T. Ng. Tạng dịch (sách) Hỏi hay đáp đúng . Ven. Dhammika. Thích Nguyên Tạng dịch (sách) Các Bộ Phái Phật Giáo ở Ấn Độ. Dr.Nalinaksha Dutt.T Ng. Tạng dịch (sách)
03/04/2023(Xem: 19560)
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan được thành lập năm 1999 tại Sydney với nhiệm kỳ 4 năm sinh hoạt Phật Sự. Đến nay đã trải qua hơn 20 năm thăng trầm hành hoạt với 6 kỳ Đại Hội trước đây, lần lượt được tổ chức tại: Chùa Pháp Bảo (1999), Chùa Pháp Quang (2003), Chùa Phổ Quang (2007), Chùa Pháp Hoa (2011), Tu Viện Quảng Đức (2015 và 2019). Và mới đây, Đại Hội Khoáng Đại Kỳ 7 được tổ chức tại Chùa Thiên Ấn, vùng Canley Vale, tiểu bang New South Wales, từ ngày 4 đến ngày 5 tháng 6 năm 2022.
18/02/2023(Xem: 9722)
Tôi nghĩ là người Phật tử, ai cũng muốn một lần được đến Ấn Độ để chiêm bái Phật tích, những Phật tích quan trong là nơi đức Phật Đản sinh, đức Phật Thành đạo, đức Phật chuyển Pháp luân và đức Phật nhập Niết Bàn. Bốn nơi đó thường được gọi là Tứ động tâm, nghĩa là 4 nơi thường làm cho người Phật tử xúc động, khi chiêm bái khi tưởng nhớ đến đức Thế Tôn. Chừng 10 năm trước, Đại đức Thích Minh Hiển từng du học ở Ấn Độ, tổ chức đi chiêm bái Phật tích, chúng tôi ghi danh đóng tiền tham gia, nhưng giờ chót, chúng tôi quyết định không đi, lần khác Đại đức Thích Hạnh Lý, trụ trì chùa Từ Ân, thành phố Louisville, Kentucky tổ chức đi chiêm bái Phật tích có thông báo cho chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng không tham gia được.
07/11/2022(Xem: 14517)
Tình tự quê hương như là chất liệu để nuôi sống đời mình, nên Hòa Thượng Tuệ Sỹ chỉ ở đó mà không đi đâu hết. Sinh ra giữa lòng đất Mẹ, chắc một ngày mai kia có chết, thì chết trong giữa lòng đất mẹ ấy, mà đã không ra đi như bao người đã ra đi. Có lẽ sinh ra nơi nào thì chết ở nơi đó. Đây là cái khí khái của bậc Đại Sỹ. Dù quê hương có đọa đầy mưa nắng, thì cũng nguyện là người làm mưa nắng để vun xới cho quê hương được tươi mát.