Mười Hai Công Hạnh Giác Ngộ Của Một Vị Phật

07/09/201821:25(Xem: 9799)
Mười Hai Công Hạnh Giác Ngộ Của Một Vị Phật

geshe_ngawangdhargyey
Mười Hai Công Hạnh Giác Ngộ Của Một Vị Phật

Alexander Berzin, 1979
Trích đoạn được duyệt lại từ tác phẩm của
Dhargyey, Geshe Ngawang. (Berzin, Alexander, ed.). An Anthology of Well-Spoken Advice, vol. 1. Dharamsala: Library of Tibetan Works & Archives, 1982.
Lozang Ngodrub dịch; Võ Thư Ngân hiệu đính

https://studybuddhism.com/vi

 

Lời Mở Đầu

Theo truyền thống Đại thừa, một ngàn vị Phật sẽ giáng thế trong thời kiếp may mắn này là điển hình của Hóa thân tối thượng (mchog-gi sprul-sku, thể dạng của các hóa thân tối thượng). Mỗi một vị Phật trong một ngàn vị Phật đã thành tựu giác ngộ từ lâu. Khi một vị Phật thị hiện trong thời kiếp này thì mỗi vị sẽ đồng thời hóa thân ở Nam Thiệm Bộ Châu (Southern Continent) trong mỗi một tỷ hệ thống thế giới trong vũ trụ của chúng ta, đồng thời thực hiện mười hai công hạnh giác ngộ (mdzad-pa bcu-gnyid) của một vị Phật ở nơi đó.

Chư Phật liên tục thị hiện Báo thân (Sambhogakaya, longs-sku, thể dạng của các thọ dụng thân) không ngừng nghỉ như thế nào thì việc thị hiện Hóa thân (Nirmanakaya) và thực hiện mười hai công hạnh giác ngộ cũng xảy ra như thế. Khi mười hai công hạnh này không xảy ra trong một vũ trụ nào thì một vị Phật đang thực hiện chúng ở các vũ trụ khác.

Mười Hai Công Hạnh Giác Ngộ

(1) Đản sanh vào Nam Thiệm Bộ Châu từ cõi Trời Đâu Suất (dGa’- ldan, Phạn ngữ Tushita), sau khi đã nhường ngôi ở Đâu Suất cho vị Phật kế tiếp của thời kiếp này, tức Phật Di Lặc.

(2) Nhập thai trong tử cung của người mẹ

(3) Đản sanh

(4) Thiện xảo và thông thái các môn nghệ thuật

(5) Tận hưởng cuộc đời với hoàng hậu và đoàn tùy tùng của Bà

(6) Từ bỏ đời sống gia đình để trở thành người thoát tục (rab-tu byung-ba)

(7) Trải qua công phu khổ hạnh đầy khó khăn

(8) An tọa dưới cội bồ đề để đạt giác ngộ

(9) Điều phục ma vương (bdud, Phạn ngữ Mara)

(10) Hiển lộ thành tựu giác ngộ

(11) Chuyển Pháp luân

(12) Thị hiện sự giải thoát khỏi mọi nỗi khổ bằng cách nhập niết bàn (mya-ngan-las ‘ das-pa, Skt. nirvana)

Những Điều Dị Biệt

Trong tác phẩm Dòng Tâm Thức Miên Viễn Lâu Dài Nhất (The Furthest Everlasting Continuum, rGyud bla-ma, Phạn ngữ Uttaratantra), Đức Di Lặc đã liệt kê thêm một công hạnh giác ngộ:

  • Đản sanh ở Cõi Trời Đâu Suất trước khi đản sanh ở Nam Thiệm Bộ Châu.

Nếu như điều này được xem là công hạnh đầu tiên của mười hai công hạnh thì nhập thai trong tử cung của người mẹ và đản sanh sẽ được tính chung như một công hạnh. Một cách khác là mười ba công hạnh giác ngộ được xem như thuộc về dục giới, và mười hai công hạnh nêu ra ở trên thuộc về cõi người.

Trong các nguồn tài liệu khác, một công hạnh giác ngộ khác được nêu ra là:

  • Khiến cho mặt trời giáo pháp thiêng liêng của Ngài mọc trên thế gian sắp diệt tận.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/02/2011(Xem: 5848)
Mùa xuân tuy không có pháo như truyền thống, nhưng bù lại tiếng vỗ tay của hội chúng cũng gây ấn tượng phần nào chào đón xuân sang.
19/01/2011(Xem: 20846)
Lời cầu nguyện cho Bồ đề tâm sanh ra và tăng trưởng : “Cầuchonguyện vọng quý giá đạt đến Giác Ngộ nảy sanh khắpnơi chỗ nào nó chưa có, và phát triển không bao giờ lui sụtở nơi nào nó đã có.” Bao giờ hư không vẫn còn tồn tại, Bao giờ vẫn còn dẫu một chúng sanh, Nguyện rằng tôi còn ở lại đời đời Để chấm dứt khổ đau cho thế giới. (Bài kệ kết thúc Diễn văn Nobel Hòa Bình)
13/01/2011(Xem: 5855)
Thông thường, truyền thọ giới pháp Bồ tát Du già, cần phải thỉnh ba vị Giới Sư làm Hòa thượng truyền giới, tức là: Đắc giới Hòa thượng (Đắc Giới Sư, đại diện cho Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni)...
09/01/2011(Xem: 11029)
Milarepa là một trong những đạo sư tâm linh nổi tiếng nhất của mọi thời. Ngài không những là một nhà lãnh đạo kiệt xuất của dòng phái Kagyu, mà cũng là một đạo sư rất quan trọng đối với mọi trường phái của Phật giáo Tây Tạng.
01/01/2011(Xem: 5295)
BAMIYAN, Afghanistan — Những hốc đá có thời chứa các tượng Phật Bamiyan khổng lồ giờ trống trãi trên mặt núi đá – một tiếng khóc thầm cho sự tàn phá dã man đối với thung lũng huyền thoại này và những quí vật một ngàn năm trăm năm tuổi, những tượng Phật đứng vĩ đại nhất một thời của thế giới.
30/12/2010(Xem: 5208)
Tứ Thư và Ngũ Kinh là những bộ sách làm nền tảng cho Nho giáo. Sách này vừa là kinh điển của các môn đồ đạo Nho, vừa là những tác phẩm văn chương tối cổ của nước Tàu.
25/12/2010(Xem: 13250)
Phật giáo là một tôn giáo được đức Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Do đạo Phật được truyền đi trong một hơn hay 2500 năm và lan ra nhiều nơi cho nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của nó khá đa dạng về các bộ phái cũng như là các nghi thức và phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, đức Thích Ca, người truyền đạo Phật, đã thiết lập được một giáo hội với các luật lệ hoạt động chặt chẽ của nó. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với các hoàn cảnh chế độ xã hội, con người, và tập tục ở các thời kỳ khác nhau, nên ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
24/12/2010(Xem: 8438)
Nếu ta dở bản đồ thế giới, ta sẽ thấy Á Châu chiếm một vùng đất mênh mông hình mặt trăng lưỡi liềm, hai đầu chỉa về hướng bắc, vòng trong đi theo duyên hải Biển Bắc Cực của xứ Scandinavia và Tây Bá Lợi Á. Vòng ngoài từ đông sang tây là bờ biển Thái Bình Dương Tây Bá Lợi Á qua Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, bán đảo lục địa Ấn Độ, Iran, Tiểu Tế Á đến Âu Châu. Giáp ranh vòng ngoài của mặt trăng lưỡi liềm ấy, tại nhiều nơi, nhưng đứng ngoài, ta thấy các nước Ả Rập, Phi Châu và Mỹ Châu.
15/12/2010(Xem: 9916)
Có những người tuy không hiểu biết nhiều về Phật Giáo nhưng lại có phần nào quen thuộc với giáo lý bất bạo động và từ bi của đao Phật, những người này thường hay lầm tưởng rằng giới Phật tử đều ăn chay. Họ có phần nào ngạc nhiên pha chút thất vọng khi khám phá ra rằng rất đông Phật tử ở cả phương Đông lẫn phương Tây vẫn thường ăn thịt (ăn mặn), cho dù không nhất thiết là tất cả Phật tử ai ai cũng ăn thịt như vậy.
03/12/2010(Xem: 5191)
Mùa Thu năm 334 trước Tây Lịch (TTL), vua A-Lịch-Sơn Đại-Đế (Alexander the Great) của nước Hy-Lạp bắt đầu cuộc chinh phạt Đông tiến. Nhà vua thấy nhà hiền triết Aristotle – cũng là ông thầy dậy học mình – nói về Ấn-Độ như là một dải đất mênh mông xa tít mù tắp tận chân trời, nên cảm thấy hứng thú phải đi chiếm lấy và để đem nền văn minh Hy-Lạp reo rắc cho các dân bản xứ.