11. Trừ sạch ham muốn

09/01/201106:24(Xem: 5923)
11. Trừ sạch ham muốn

11

Trừ sạch ham muốn


Một hôm khi Jetsušn đang ở trong thung lũng Dược Liệu vùng Chu Bar dạy Pháp cho vài đệ tử, Thiền giả Ortošn Gendun đến gần ngài và hỏi, “Lama quý báu, trong những lời giáo huấn của vài geshe (pháp sư), ngài nổi danh như một vị Phật. Họ nói ngài đã hoàn toàn diệt trừ ham muốn. Có thật vậy không ?”

Jetsušn trả lời : “Họ nói vậy đó. Nhưng có nhiều cách để loại trừ ham muốn. Không có ai trong họ chắc chắn đạt được Phật tánh. Ông có thể hiểu ý nghĩa của danh từ “Phật” khi nghe bài ca của lão già này.”

Con lạy dưới chân Marpa vĩ đại,
Lotsawa nói hai thứ tiếng,
Người với cái nhìn thấu suốt ba thời
Đã chứng ngộ thực tại của cái nhiều như là một.

Đặc biệt, người nào đã tẩy sạch và hoàn toàn loại bỏ
Khối chồng chất những định kiến và dấu vết in tiêu cực
Và những che ám của phiền não và hành động
Gây ra bởi sức mạnh của vô minh ;
Người nào đã làm tan sự lầm lạc tối tăm
Che ám sự hiểu biết về thế giới khách quan
Và đạt được những sức mạnh, niềm tin và những tài sản độc nhất(18)
Qua sự thấu suốt của trí huệ về trạng thái bổn nhiên –
Với người đã phát triển
Mọi phẩm tính của toàn giác như vậy
Danh từ “Phật” được đặt tên cho.
Một vị Phật hoàn hảo như thế
Hoàn toàn thoát khỏi mọi ham muốn.

Nói rằng ngay những con rệp trên cây
Và trẻ nhỏ thiếu nhận thức rõ ràng
Là những vị Phật là lời nói của kẻ ngu.
Vì thiếu những ý niệm rạch ròi
Như sở hữu và bạn bè,
Chúng còn bị khổ sở vì những phản ứng
Với nóng và lạnh, đói và khát.
Những liên kết gốc rễ này dần dần phát triển
Thành những ý niệm đã nở trọn của ham muốn.

Người ngoại đạo, hiền triết và tà giáo
Cũng có nhiều sở đắc
Như bay ngang qua bầu trời,
Cái biết thiên nhãn không chướng ngại
Nhiều sự biến hóa huyền thuật
Và thoát khỏi những khao khát những đối tượng của ham muốn.
Nhưng họ xoay tròn trong sanh tử hoài hoài
Vì lỗi lầm trong nguồn gốc quy y sai
Và không có cái thấy
Của trí huệ phân tích và thiện xảo trong phương tiện.

Cũng thế, với những hành giả Phật giáo
Dầu họ đã du hành qua bốn thiền
Và bốn thiền vô sắc giới
Đạt đến đỉnh cao nhất của sanh tử nơi không có ham muốn
Nhưng nếu họ không đầy đủ trí huệ và phương tiện,
Họ cũng sẽ xoay tròn trong sanh tử như trước.

Bởi thế, Phật quả không bao giờ đạt được
Chỉ bằng sự ngưng dứt ham muốn mà không có hợp nhất
Của phương tiện và trí huệ qua sự thiện xảo trong phương tiện.

Vậy điều ấy tiến hành như thế nào ?
Nghiên cứu những con đường của ba loại nhân cách :(19)
Sáu cái siêu việt là bố thí, trì giới vân vân
Bốn phương tiện xã hội và bốn tâm vô lượng,
Ba thừa và ba căn bản của thực hành,
Và sự hòa nhập của đại bi và tánh Không.

Rồi nỗ lực tích tập một kho lớn công đức
Bởi bố thí, trì giới và nhẫn nhục siêu việt.
Xây dựng nên kho trí huệ rốt ráo
Bằng cách thực hành những siêu việt định và huệ.
Nghị lực hỗ trợ cho cả hai
Bằng cách tăng cường nỗ lực của tâm thức.

Dù cho mọi sự là tánh Không hiện tiền,
Thì sự khăng khít chỉ với danh xưng “tánh Không”
Mà không có sự chứng ngộ thực sự
Chỉ dẫn đến sự chối bỏ hành động và kết quả,
Là nguyên nhân lớn của địa ngục và mất hết tự do.
Bởi thế, đối với hành động tốt, xấu và kết quả của chúng,
Phải tránh tội lỗi trong một mức độ nhỏ nhất,
Và trau dồi đức hạnh đến một phạm vi lớn nhất.

Cũng cố gắng trau dồi sự kết hợp không thể phân chia
Của trí huệ và thiền định,
Vì với định tâm thức được an định,
Và với huệ những đi lạc được nhận biết.

Cũng như thế, với tánh Không và đại bi,
Trau dồi sự hòa nhập của trí huệ và phương tiện,
Vì nhờ vào phương tiện cao cả của lòng đại bi này
Lợi lạc của chúng sanh trong vòng sanh tử được thành tựu,
Và nhờ vào cái thấy của trí huệ tánh Không
Pháp thân cho chính mình được thực hiện.
Từ hạt giống cầu nguyện được trồng
Thấm nhuần với phương tiện thiêng liêng của lòng bi
Sắc thân có hai cái được khởi ra từ đó.
Và bởi những hóa hiện không thể nghĩ bàn của sắc thân.
Những hy vọng, mong muốn và nhu cầu của chúng sanh
Được đáp ứng theo những cách phù hợp với lợi lạc của họ,
Như một viên ngọc ban cho mọi ước muốn,
Hay một cây thỏa nguyện, hay một cây thiêng liêng để tôn sùng.

Và toàn giác, thoát khỏi định kiến, ý niệm,
Đáp ứng những hy vọng của mọi người tu hành
Như những tia sáng mặt trời tuôn chảy và không thể nghĩ bàn
Làm tan sương mù của mọi thế giới.

Những cấp bậc của sự tu hành ấy
Chan chứa trong tâm của Marpa,
Vị vua của mọi nhà dịch giả.
Là phạm vi chứng ngộ của Mila.
Ta đã giải thích cho con, Ortošn,
Sự thấu hiểu này của thiền giả khất thực –
Hãy mang nó trong lòng, hỡi con người cao quý.

Cho đến khi nào trạng thái bổn nhiên hiện tiền được giáp mặt
Qua sự kết hợp của Pháp và tâm tinh túy của con,
Chớ chểnh mảng với nhân và quả.

Cho đến khi nào con đã đạt được thiện xảo
Trong mọi kinh, tantra và luận,
Chớ dạy Pháp một cách vu vơ.

Cho đến khi nào thân, ngữ và tâm được hướng tới lợi lạc của người khác
Bằng cách chặt đứt sự dính vướng với tham muốn của riêng con,
Chớ cư xử với mong đòi và mánh lới.

Cho đến khi nào con đã chặt đứt sự dính vướng với tham muốn của riêng con
Và có thể hy sinh cuộc đời để làm lợi lạc cho người khác
Chớ có nói, “Tôi là một bồ tát.”

Cho đến khi nào tham dự vào sự lợi lạc của người khác với bốn phương tiện xã hội
Qua sự khởi đầu của từ bi hỷ xả trong tâm
Chớ có nói, “Tôi làm việc cho lợi ích của người khác.”

Cho đến khi nào lòng con là một với lama của con
Và con cầu nguyện ngài bốn thời trong mỗi ngày,
Chớ có nói, “Tôi có lòng kính ngưỡng.”

Cho đến khi nào chúng sanh và thế giới chiếu sáng như thần linh, không luyến chấp,
Và thân huyễn được tịnh hóa vào tịnh quang,
Chớ có nói, “Tôi là một hành giả của thừa thần chú.”

Cho đến khi nào những dakini tụ lại ở bữa tiệc của con
Và những đồ cúng thiêng liêng biến thành cam lồ
Chớ có nói, “Tôi cử hành lễ tiệc tôn giáo.”

Cho đến khi nào làm chủ được hạt trắng, khí và kinh mạch,
Và những đại có thể bỏ hay giữ,
Chớ có cử hành karmamudra.

Cho đến khi nào sức mạnh của tánh Giác trong sáng khởi hiện
Trong tĩnh lặng rực rỡ, thoát khỏi tư tưởng,
Chớ có nói, “Tôi thiền định về tám cấp bậc định.”

Cho đến khi nào thực tại chân thực được sinh ra trên trán
Qua khảo xét bằng trí huệ phân tích, bổn nguyên,
Chớ có nói, “Chứng ngộ đã mọc lên.”

Con có hiểu nghĩa ta nói không, thiền giả ?

Xúc động bởi niềm tin mạnh mẽ, thiền giả hát :

Eh ma ! Đại thiền giả repa !
Eh ma ! Người bảo vệ chúng sanh trong ba cõi !
Eh ma ! Phật với hình tướng con người !
Con lạy dưới chân ngài, cha Jetsušn vĩ đại.

Mây của tình thương và bi mẫn
Nhóm tụ trong bầu trời vô biên của tâm ngài,
Và với sấm sét vang rền của lời ngài
Một trận mưa giảng Pháp rơi xuống.

Ngài đã gieo hạt giống của những giáo huấn sâu xa
Trong đất cằn khô, không canh tác của tâm con,
Được tưới với những sự phát giác rõ ràng,
Tránh khỏi trận mưa đá của tư tưởng sai lầm,
Và được chăm sóc với sự thiện xảo đúng thời, bi mẫn trong phương tiện.

Dù quả toàn giác chưa chín
Do căn cơ thấp kém của con,
Cũng không có ai hơn được ngài trong phương tiện.

Từ bây giờ đến lúc đạt được giác ngộ
Nguyện con theo cùng ngài, vua của những thiền giả,
Luôn luôn không rời như bóng với hình.

Cùng sống với ngài nguyện con chứng được
Tinh túy của trạng thái bổn nhiên, và đạt giác ngộ vô thượng.
Nguyện rằng bấy giờ con làm việc cho lợi lạc của những người khác
Và do đó giải thoát cho tất cả chúng sanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/07/2011(Xem: 13020)
Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật tồn tại đến ngày nay là do sự truyền thừa từ đức Phật đến chư tổ. Tổ lại truyền cho tổ, ‘Tổ tổ tương truyền’ tiếp diễn từ đời nầy sang đời khác. Sự truyền thừa được thể hiện qua hai phương diện giáo lý và thật hành. Về phần giáo lý thì mỗi tông phái đều sáng lập giáo nghĩa, tông chỉ riêng biệt và đều lấy kinh điển của Phật làm nền tảng. Về phần thật hành hay phần sự có khác biệt là tùy theo giáo nghĩa và tư tưởng của mỗi tông. Mỗi tông phái đều truyền bá và xiển dương pháp môn của mình trong tông môn và quần chúng Phật tử. Mỗi tông phái của đạo Phật được ví như mỗi loại hoa của vườn hoa Phật pháp. Mỗi loại hoa có nét đẹp và hương thơm riêng biệt, để khoe sắc hương, nhưng tất cả đều ở trong vườn tịnh của Phật pháp. Cũng như vậy, mỗi tông phái đều là của đạo Phật và đều cùng mang một vị, đó là vị ‘giải thoát’. Trong phần sưu tập về tông phái Thiên thai, chúng tôi chia thành hai giai đoạn chính. Đó là sự sáng lập tông phái ở Trung Quốc, sau nhiều thế kỷ
23/06/2011(Xem: 7559)
Một sự trình bày rõ ràng và trung thực về Phật giáo Tây Tạng, quyển sách này trình bày căn bản của Phật pháp theo một đường lối mà mọi người đều có thể hiểu được khi đọc và dễ dàng tu tập trong cuộc sống hàng ngày. Được soạn thảo riêng cho những người mới tìm hiểu vấn đề này lần đầu tiên, quyển sách này cũng còn cung cấp những kiến thức quý báu cho những đệ tử đã thông hiểu Phật giáo Tây Tạng.
22/06/2011(Xem: 5774)
Cách đây không lâu, cả thế giới đã lên tiếng phản đối hành động điên cuồng phá hủy hai tôn tượng Phật bằng đá cao nhất thế giới tại Bamiyan (Afghanistan) của chính quyền Taliban cực đoan. Sau hành động phá hoại đó, không ít người ngỡ rằng những di tích nền văn minh cổ xưa của Phật giáo tại nơi đây đã bị hủy diệt hoàn toàn; tuy nhiên, điều đó thực tế đã không phải như vậy. Cách đây gần một thập niên, giới khảo cổ học đã khai quật và phát hiện ở Bamiyan những di liệu văn học Phật giáo hết sức kỳ diệu, những minh chứng hùng hồn cho một giai đoạn phát triền rực rỡ của Phật giáo tại nơi này một trung tâm Phật giáo quan trọng ngoài Ấn Độ. Sự phát triển đó đá tạo nên một nền văn minh riêng biệt, gọi là nền văn minh Phật giáo Gandhàra.
20/06/2011(Xem: 11826)
Vào năm 1949, tôi đã cùng thầy Trí Hữu, một vị Thượng tọa từ Đà Nẵng thành lập nên Phật Học Đường Ấn Quang ở Sài Gòn. Tôi dạy lớp sơ cấp đầu cho các vị Sadi. Hồi đó tên chùa là Ứng Quang. Chùa vách tre lợp lá rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang diễn ra giữa quân đội Pháp và lực lượng kháng chiến Việt Minh.
18/06/2011(Xem: 6717)
Phong trào Phật giáo nhân gian (人間佛教) xuất hiện vào đầu thế kỷ 20. Từ những năm thập niên 80 thế kỷ trước, phong trào này trở thành một khuynh hướng chính của Phật giáo ở Trung Hoa lục địa, Đài Loan và Hồng Kông, vượt thoát những khác biệt tông phái và vùng miền. Cho dù ở bên trong phạm vi Phật giáo, hay ở trong giới học giả hay các phân khoa hành chính tôn giáo, mỗi khi thảo luận về tình hình hiện nay và việc phát triển Phật giáo Trung Quốc trong tương lai, người ta không thể bỏ qua chủ đề Phật giáo nhân gian.
10/06/2011(Xem: 9446)
Cách đây hơn hai nghìn năm, Việt Nam là trung tâm mậu dịch buôn bán, rất nhiều thương thuyền của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước Nam hải khác đến miền bắc Việt Nam. Các Tăng lữ Ấn thường đi cùng các thuyền buôn trên đường đến Trung Quốc, dừng lại Việt Nam trong một thời gian ngắn. Vì vậy có thể nói, Việt Nam tiếp xúc Phật giáo Ấn Độ sớm hơn Trung Quốc. Tuyến đường biển là tuyến đường Phật giáo tiểu thừa Ấn Độ truyền vào Trung Quốc và cũng là con đường Tây vực truyền vào Trung Quốc; mặt khác, Phật giáo Việt Nam lại được truyền đến từ Trung Quốc (Thiền Nam tông), chính ở đây diễn ra sự giao hội, dung hợp hết sức thú vị của hai dòng phái Phật giáo này diễn ra trên đất Giao Chỉ. Một là Phật giáo Nam tông hai là Phật giáo Bắc tông.
23/05/2011(Xem: 13867)
Chủ đề chính của bài này là những hình ảnh đẹp được chụp ở một số nước châu Á trong dịp Lễ Phật Đản. Mời anh em cùng xem qua.
14/05/2011(Xem: 7868)
Nếu chúng ta tìm hiểu các hoạt động, các nghi thức mà Phật giáo ở các nước tổ chức Đại lễ Phật đản ở xứ họ thì chúng ta sẽ học hỏi được rất nhiều điều giá trị...
06/05/2011(Xem: 11729)
Sách Phật tổ Thống ký thuật là dưới đời Đường, vua Hỷ tông năm 873 TL, ngày tám tháng Tư, thiết lễ Phật đản bằng cách rước kiệu di tích đức Phật từ Phụng hoàng Pháp môn về Lạc dương.
27/04/2011(Xem: 9640)
Một chủ đề chính của cuốn sách này là qua thực hành chúng ta có thể trau dồi tỉnh giác lớn lao hơn suốt mỗi khoảnh khắc của đời sống. Nếu chúng ta làm thế, tự do và linh hoạt mềm dẻo liên tục tăng trưởng...