11. Trừ sạch ham muốn

09/01/201106:24(Xem: 5918)
11. Trừ sạch ham muốn

11

Trừ sạch ham muốn


Một hôm khi Jetsušn đang ở trong thung lũng Dược Liệu vùng Chu Bar dạy Pháp cho vài đệ tử, Thiền giả Ortošn Gendun đến gần ngài và hỏi, “Lama quý báu, trong những lời giáo huấn của vài geshe (pháp sư), ngài nổi danh như một vị Phật. Họ nói ngài đã hoàn toàn diệt trừ ham muốn. Có thật vậy không ?”

Jetsušn trả lời : “Họ nói vậy đó. Nhưng có nhiều cách để loại trừ ham muốn. Không có ai trong họ chắc chắn đạt được Phật tánh. Ông có thể hiểu ý nghĩa của danh từ “Phật” khi nghe bài ca của lão già này.”

Con lạy dưới chân Marpa vĩ đại,
Lotsawa nói hai thứ tiếng,
Người với cái nhìn thấu suốt ba thời
Đã chứng ngộ thực tại của cái nhiều như là một.

Đặc biệt, người nào đã tẩy sạch và hoàn toàn loại bỏ
Khối chồng chất những định kiến và dấu vết in tiêu cực
Và những che ám của phiền não và hành động
Gây ra bởi sức mạnh của vô minh ;
Người nào đã làm tan sự lầm lạc tối tăm
Che ám sự hiểu biết về thế giới khách quan
Và đạt được những sức mạnh, niềm tin và những tài sản độc nhất(18)
Qua sự thấu suốt của trí huệ về trạng thái bổn nhiên –
Với người đã phát triển
Mọi phẩm tính của toàn giác như vậy
Danh từ “Phật” được đặt tên cho.
Một vị Phật hoàn hảo như thế
Hoàn toàn thoát khỏi mọi ham muốn.

Nói rằng ngay những con rệp trên cây
Và trẻ nhỏ thiếu nhận thức rõ ràng
Là những vị Phật là lời nói của kẻ ngu.
Vì thiếu những ý niệm rạch ròi
Như sở hữu và bạn bè,
Chúng còn bị khổ sở vì những phản ứng
Với nóng và lạnh, đói và khát.
Những liên kết gốc rễ này dần dần phát triển
Thành những ý niệm đã nở trọn của ham muốn.

Người ngoại đạo, hiền triết và tà giáo
Cũng có nhiều sở đắc
Như bay ngang qua bầu trời,
Cái biết thiên nhãn không chướng ngại
Nhiều sự biến hóa huyền thuật
Và thoát khỏi những khao khát những đối tượng của ham muốn.
Nhưng họ xoay tròn trong sanh tử hoài hoài
Vì lỗi lầm trong nguồn gốc quy y sai
Và không có cái thấy
Của trí huệ phân tích và thiện xảo trong phương tiện.

Cũng thế, với những hành giả Phật giáo
Dầu họ đã du hành qua bốn thiền
Và bốn thiền vô sắc giới
Đạt đến đỉnh cao nhất của sanh tử nơi không có ham muốn
Nhưng nếu họ không đầy đủ trí huệ và phương tiện,
Họ cũng sẽ xoay tròn trong sanh tử như trước.

Bởi thế, Phật quả không bao giờ đạt được
Chỉ bằng sự ngưng dứt ham muốn mà không có hợp nhất
Của phương tiện và trí huệ qua sự thiện xảo trong phương tiện.

Vậy điều ấy tiến hành như thế nào ?
Nghiên cứu những con đường của ba loại nhân cách :(19)
Sáu cái siêu việt là bố thí, trì giới vân vân
Bốn phương tiện xã hội và bốn tâm vô lượng,
Ba thừa và ba căn bản của thực hành,
Và sự hòa nhập của đại bi và tánh Không.

Rồi nỗ lực tích tập một kho lớn công đức
Bởi bố thí, trì giới và nhẫn nhục siêu việt.
Xây dựng nên kho trí huệ rốt ráo
Bằng cách thực hành những siêu việt định và huệ.
Nghị lực hỗ trợ cho cả hai
Bằng cách tăng cường nỗ lực của tâm thức.

Dù cho mọi sự là tánh Không hiện tiền,
Thì sự khăng khít chỉ với danh xưng “tánh Không”
Mà không có sự chứng ngộ thực sự
Chỉ dẫn đến sự chối bỏ hành động và kết quả,
Là nguyên nhân lớn của địa ngục và mất hết tự do.
Bởi thế, đối với hành động tốt, xấu và kết quả của chúng,
Phải tránh tội lỗi trong một mức độ nhỏ nhất,
Và trau dồi đức hạnh đến một phạm vi lớn nhất.

Cũng cố gắng trau dồi sự kết hợp không thể phân chia
Của trí huệ và thiền định,
Vì với định tâm thức được an định,
Và với huệ những đi lạc được nhận biết.

Cũng như thế, với tánh Không và đại bi,
Trau dồi sự hòa nhập của trí huệ và phương tiện,
Vì nhờ vào phương tiện cao cả của lòng đại bi này
Lợi lạc của chúng sanh trong vòng sanh tử được thành tựu,
Và nhờ vào cái thấy của trí huệ tánh Không
Pháp thân cho chính mình được thực hiện.
Từ hạt giống cầu nguyện được trồng
Thấm nhuần với phương tiện thiêng liêng của lòng bi
Sắc thân có hai cái được khởi ra từ đó.
Và bởi những hóa hiện không thể nghĩ bàn của sắc thân.
Những hy vọng, mong muốn và nhu cầu của chúng sanh
Được đáp ứng theo những cách phù hợp với lợi lạc của họ,
Như một viên ngọc ban cho mọi ước muốn,
Hay một cây thỏa nguyện, hay một cây thiêng liêng để tôn sùng.

Và toàn giác, thoát khỏi định kiến, ý niệm,
Đáp ứng những hy vọng của mọi người tu hành
Như những tia sáng mặt trời tuôn chảy và không thể nghĩ bàn
Làm tan sương mù của mọi thế giới.

Những cấp bậc của sự tu hành ấy
Chan chứa trong tâm của Marpa,
Vị vua của mọi nhà dịch giả.
Là phạm vi chứng ngộ của Mila.
Ta đã giải thích cho con, Ortošn,
Sự thấu hiểu này của thiền giả khất thực –
Hãy mang nó trong lòng, hỡi con người cao quý.

Cho đến khi nào trạng thái bổn nhiên hiện tiền được giáp mặt
Qua sự kết hợp của Pháp và tâm tinh túy của con,
Chớ chểnh mảng với nhân và quả.

Cho đến khi nào con đã đạt được thiện xảo
Trong mọi kinh, tantra và luận,
Chớ dạy Pháp một cách vu vơ.

Cho đến khi nào thân, ngữ và tâm được hướng tới lợi lạc của người khác
Bằng cách chặt đứt sự dính vướng với tham muốn của riêng con,
Chớ cư xử với mong đòi và mánh lới.

Cho đến khi nào con đã chặt đứt sự dính vướng với tham muốn của riêng con
Và có thể hy sinh cuộc đời để làm lợi lạc cho người khác
Chớ có nói, “Tôi là một bồ tát.”

Cho đến khi nào tham dự vào sự lợi lạc của người khác với bốn phương tiện xã hội
Qua sự khởi đầu của từ bi hỷ xả trong tâm
Chớ có nói, “Tôi làm việc cho lợi ích của người khác.”

Cho đến khi nào lòng con là một với lama của con
Và con cầu nguyện ngài bốn thời trong mỗi ngày,
Chớ có nói, “Tôi có lòng kính ngưỡng.”

Cho đến khi nào chúng sanh và thế giới chiếu sáng như thần linh, không luyến chấp,
Và thân huyễn được tịnh hóa vào tịnh quang,
Chớ có nói, “Tôi là một hành giả của thừa thần chú.”

Cho đến khi nào những dakini tụ lại ở bữa tiệc của con
Và những đồ cúng thiêng liêng biến thành cam lồ
Chớ có nói, “Tôi cử hành lễ tiệc tôn giáo.”

Cho đến khi nào làm chủ được hạt trắng, khí và kinh mạch,
Và những đại có thể bỏ hay giữ,
Chớ có cử hành karmamudra.

Cho đến khi nào sức mạnh của tánh Giác trong sáng khởi hiện
Trong tĩnh lặng rực rỡ, thoát khỏi tư tưởng,
Chớ có nói, “Tôi thiền định về tám cấp bậc định.”

Cho đến khi nào thực tại chân thực được sinh ra trên trán
Qua khảo xét bằng trí huệ phân tích, bổn nguyên,
Chớ có nói, “Chứng ngộ đã mọc lên.”

Con có hiểu nghĩa ta nói không, thiền giả ?

Xúc động bởi niềm tin mạnh mẽ, thiền giả hát :

Eh ma ! Đại thiền giả repa !
Eh ma ! Người bảo vệ chúng sanh trong ba cõi !
Eh ma ! Phật với hình tướng con người !
Con lạy dưới chân ngài, cha Jetsušn vĩ đại.

Mây của tình thương và bi mẫn
Nhóm tụ trong bầu trời vô biên của tâm ngài,
Và với sấm sét vang rền của lời ngài
Một trận mưa giảng Pháp rơi xuống.

Ngài đã gieo hạt giống của những giáo huấn sâu xa
Trong đất cằn khô, không canh tác của tâm con,
Được tưới với những sự phát giác rõ ràng,
Tránh khỏi trận mưa đá của tư tưởng sai lầm,
Và được chăm sóc với sự thiện xảo đúng thời, bi mẫn trong phương tiện.

Dù quả toàn giác chưa chín
Do căn cơ thấp kém của con,
Cũng không có ai hơn được ngài trong phương tiện.

Từ bây giờ đến lúc đạt được giác ngộ
Nguyện con theo cùng ngài, vua của những thiền giả,
Luôn luôn không rời như bóng với hình.

Cùng sống với ngài nguyện con chứng được
Tinh túy của trạng thái bổn nhiên, và đạt giác ngộ vô thượng.
Nguyện rằng bấy giờ con làm việc cho lợi lạc của những người khác
Và do đó giải thoát cho tất cả chúng sanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6466)
Cuối tháng 3 năm 2004, tại TP Hồ Chí Minh diễn ra một hội sách mang tính quốc tế với sự góp mặt của hầu hết các nhà xuất bản trong nước cũng như một số nhà xuất bản uy tín nước ngoài. Có thể thấy ngay được những cố gắng của nhà nước trong quản lý văn hóa, nhằm tôn vinh giá trị của văn hóa đọc, một kỹ năng luôn cần cho con người trong quá trình phát triển ở mọi thời đại. Ðiều này cũng nằm trong chủ trương xây dựng một nền văn hóa hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc mà nhà nước đã và đang cổ súy.
09/04/2013(Xem: 32740)
Ngày nay, căn cứ các tài liệu (1) và các lập luận khoa học của nhiều học giả, giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Đạo Phật đã được truyền vào Việt Nam rất sớm, nhất là từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ.
09/04/2013(Xem: 22259)
Năm 1957, chúng tôi tu học tại cao đẳng Phật học viện Srisumana Vidyalaya, đồng thời theo học trường Srisumana College, tỉnh Ratnapura, nước Srilanka. Theo Phật lịch thì năm 1957 là đúng 2500 năm tính theo tuổi thọ 5000 năm giáo pháp của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Chánh phủ Ấn Độ lần đầu tiên mở cửa cho các hành Phật tử trên thế giới được đến hành hương bốn thánh địa và những địa danh Phật tích chỉ trả nửa giá tiền trong các tuyến đường xe lửa.
09/04/2013(Xem: 31695)
Năm 1921, khoảng bẩy trăm tăng ni cư sĩ tụ họp tại am thất Chuzang gần Lhasa để nghe pháp tu Lam-rim do bậc thầy Kyabie Pabongka Rinpoche giảng. Suốt ba tuần lễ kế tiếp họ được hấp thụ những thời pháp nổi tiếng nhất đã từng được giảng ở Tây Tạng.
09/04/2013(Xem: 19464)
Nếu chúng ta cứ coi mình là trung tâm và chỉ quan tâm tới chính mình, sẽ dẫn tới sự thiếu tin tưởng, sợ hãi và nghi ngờ. Quan tâm tới lợi ích của người khác sẽ làm giảm sợ hãi và nghi ngờ, trong khi đó một tâm thức rộng mở và minh bạch làm phát sinh niềm tin và tình bằng hữu.
08/04/2013(Xem: 13049)
Đức Phật dạy: “Nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị mặn cũng như giáo lý của ta chỉ có một vị là giải thoát”. Mùi vị của nước trăm sông tuy có khác, nhưng chảy về biển cả thì chỉ là một vị mặn. Mục tiêu chính là Đức Phật xuất hiện ở đời là để giúp chúng sanh “chuyển mê thành ngộ” nghĩa là dứt bỏ những mê lầm tà vạy trở về con đường sáng giác ngộ chân lý, giác ngộ chân lý là được giải thoát.
08/04/2013(Xem: 11881)
Trong bài thường nhắc tới tước hiệu tôn giáo của các trưởng lão Miến Ðiện (chẳng hạn Nànàlankàra, Ariyàlankàra, Vicittalankàra, Kavidhaja, ...), chúng tôi quyết định để nguyên vì tạm thời không có tài liệu tra cứu và cũng do thấy không cần thiết.
08/04/2013(Xem: 20795)
Chơn Ngôn Tông Nhật Bản. - Satoo Ryoosei & Komine Ichiin. Thích Như Điển Dịch
08/04/2013(Xem: 6255)
Sau đổi mới 1986, nền giáo dục đã mở rộng cửa cho Tăng ni sinh đặt chân đến học đường. Các trường học không phân biệt đối xử với Tăng ni sinh khi ghi danh vào học như trước đây. Ðiều này đã thúc đẫy phần nào số lượng Tăng ni theo học tại các trường Ðại học trong cả nước ngày một tăng.
01/04/2013(Xem: 6539)
Phật giáo du nhập các nước Tây Phương bằng cách nào? Trong thời gian Phật còn tại thế, Phật Giáo mới chỉ phát triển đến miền Tây Bắc Ấn Ðộ. Hai thế kỷ sau, đạo Phật lan rộng đến những vùng phía bắc sông Indus ở Punjab và xứ Afghanistan (A Phú Hản) ...