Phật giáo tại Bangladesh

22/05/201317:53(Xem: 20170)
Phật giáo tại Bangladesh


Phật Giáo Khắp Thế Giới

Thích Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2001
---o0o---


Phật Giáo tại Bangladesh

Bangladesh, một quốc gia nằm ở mạn Nam châu Á với 120 triệu dân. Đó là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới (mật độ cư dân: 802,7 người/km2) và tín đồ Hồi giáo chiếm đa số. Chittagong Hill Tracts (CHT, vùng đồi núi Chittagong) là một vùng nằm ở miền Đông Nam quốc gia này nằm cạnh phía Tây Nam nước Miến Điện. Vùng này trải dài khoảng năm ngàn dặm vuông, là nơi cư ngụ của 500.000 tín đồ Phật giáo. Họ phần lớn là cộng đồng người Chakma, Marma, Tonchangy và Ma-rungs thuộc sắc tộc Mông Cổ. Thêm vào đó, có khoảng 200.000 Phật tử người Bengali ở rải rác khắp các tỉnh thành của đất nước này.

Theo truyền thuyết dân gian từ xa xưa của cộng đồng Chakma thì dân chúng Chakma phát xuất từ bộ tộc Shakya (Thích-ca), nơi đức Phật Thích-ca-mâu-ni đản sinh. Sau khi Phật nhập diệt, vua Birurhab nước Kaushala, Ấn Độ đã đem quân đội chống lại bộ tộc Shakya. Bộ tộc Shakya nhỏ nhoi đó đã bất lực không đương đầu nổi với đội quân hùng mạnh này và hầu như bị tiêu diệt. Phần lớn đã chạy thoát thân về hướng núi Himalaya, trong khi một số nhỏ khác bỏ chạy về phía Đông Ấn Độ. Về sau, số đông Phật tử gốc Chakmas này băng qua Miến Điện và đến định cư ở Chittagong, Bangladesh.

Người Miến Điện xưa thường gọi bộ tộc Shakya là tsak, một danh xưng mà có lẽ về sau đã biến đổi dần thành Chakma. Cộng đồng Chakma là một dân tộc bản địa. Giáo điển chính yếu của họ, bộ kinh Agartara, là một phần căn bản trong Tam Tạng Thánh điển Phật giáo. Các tăng sĩ (Roulees) theo truyền thống Bắc tông ngày trước đã đảm nhận những chức vụ trong Giáo hội, cũng như ngoài xã hội. Một trong những cổ truyền của họ là Bhaddha, lễ hội họp toàn gia tộc để dâng cúng lễ Pinda Dana cho thân bằng quyến thuộc đã khuất, và cầu nguyện các vong linh được vĩnh viễn siêu thoát mọi khổ đau.

Những di chỉ của vùng Mohasthan Garh thuộc miền Bắc Bengal và ngôi chùa Phật giáo Comilla Shalban chứng minh rằng Phật giáo đã được truyền bá khắp vùng này. Hòa thượng Shilabhadra người Bangladesh từng là Viện trưởng của Đại học nổi tiếng Nalanda ở Ấn Độ. Học giả Phật giáo Atish Dipankar từ Bangladesh đã đi đến tận Tây Tạng để truyền bá Phật giáo Đại thừa. Tuy nhiên, qua thời gian, Phật giáo đã biến mất khỏi đất nước này ngoại trừ vùng CHT. Song ở vùng tiểu lục địa Ấn Độ vẫn còn một Thánh địa danh tiếng tên là Chitmaram, nằm ở trung tâm CHT bên bờ sông Karnaphulli.

Mãi cho đến giai đoạn cải cách tôn giáo do Hoàng hậu người Chakma là Kalindi khởi xướng cùng với sự giúp đỡ của Tăng sĩ Saramedha Mohasthabira, dân Chakma vẫn chịu ảnh hưởng của Đại thừa Mật giáo (Tây Tạng). Một Tăng sĩ khác đóng vai trò chính trong phong trào chấn hưng Phật giáo giữa dân chúng miền sơn cước này là ngài Karmabir Priya Ratha Mohasthabira. Ngài đã sống đời tu sĩ ba mươi lăm năm trong tu viện, và ngài nghĩ rằng, nếu không có giáo dục thì không thể cải thiện đời sống, đạo giáo và gia đình được. Vì thế, ngài đã từng cung cấp nơi ăn ở cho học sinh và dạy giáo lý cho họ, trong một nỗ lực đương đầu với những hoạt động chống phá xã hội và mê tín dị đoan. Khi các Tăng sĩ Mật tông, các vị Lourees, bắt đầu bị Ba-la-môn giáo và các tôn giáo Tây phương lôi cuốn, thì việc cải cách xã hội đã bị quên lãng. Chính Tỷ-kheo Priya và các đồ đệ của ngài đã có thể che chở cộng đồng Chakma dưới chiếc dù Phật giáo. Trong số những đệ tử của ngài có công này là Ananda Mitra, Bimalananda, Dharma Ratma, Sattya Priya và nhiều Tăng sĩ khác.

Và cuối thập niên 50, một học giả Tam Tạng, Hòa thượng Agrabangsha Mohasthabira hồi hương từ Miến Điện và ngài đã trở thành người lãnh đạo Phật giáo ỡ Rangamati. Lúc đó ngài bắt đầu phát triển Phật giáo ở vùng đồi. Năm 1958, ngài đã thành lập tổ chức Phật giáo phi chính trị với danh xưng là Parbattya Bhikkhu Samity (Hội Tăng-già vùng núi Bangladesh). Tổ chức về sau được Hòa thượng Prajnananda Mohathera cải tổ, ngài là chủ tịch Hội Phật giáo Bangladesh. Vào năm 1982, Hội này đổi thành "Hội Tăng-già Parbattya". Tất cả chư Tăng và cư sĩ tại gia đều là thành viên của Hội này.

Năm 1971, sau cuộc chiến tàn sát đẫm máu và đất nước giải phóng, Bangladesh xất hiện trên bản đồ của thế giới như một quốc gia thực thụ. Trong thời chiến, nhiều người cơ cực mất hết thân nhân đều tìm đến nhiều tổ chức khác nhau để tìm nơi nương tựa. Nhằm mục đích tạo nhà ở cho người vô gia cư lạc lõng bơ vơ này, Hòa thượng Jnanasri Mohathera và các đệ tử của ngài, ĐĐ Bimaltishya, ĐĐ Prajnananda, ĐĐ Priyatishya, ĐĐ Jinapal và tôi (ngưới viết bài này) đã tìm kiếm một miếng đất ở làng Kangapani, gần Ủy ban quận Rangamati. Ngài đã xây dựng một Cô Nhi Viện Phật giáo CHT, để phục vụ cho dân nghèo khổ bần cùng ở trong vùng núi. Chủ tịch Hội Tăng-già Phật giáo Bangladesh, ngài Prajnananda Mohathera, hiện nay là Tổng thư ký của tổ chức này, và tôi là Hiệu trưởng của Viện.

Có ba trại mồ côi đang được Hội Phật giáo Bangladesh điều hành. Qua các trại mồ côi này, khoảng 2000 trẻ em được giáo dục phổ thông, giáo lý và kỹ thuật. Vào năm 1986, Hội Phật giáo Bangladesh đã gia nhập Hội Liên hữu Phật giáo Quốc tế (World Fellowship of Buddhism). Đó là tổ chức Phật giáo duy nhất ở Bangladesh nhằm xây dựng đời sống thiếu niên con em của những người bần cùng ở xứ sở này.

Hiện nay, tổ chức Phật giáo này đang quan tâm thành lập một trường Đại học Phật giáo, một trường kỹ thuật, một trường phổ thông, một bệnh viện, một trung tâm báo chí và Thiền học. Những dự án khác là sẽ tiến hành thành lập một trung tâm Thiền, một Tu viện, một Viện nghiên cứu, Thư viện, Quỹ bảo trợ của Phật tử, Ban Giáo dục Phật giáo, Hội Pali text, Viện bảo tàng Phật giáo, Trạm xá...

Là đại diện của Hội Tăng-già và Hội Phật giáo Bangladesh, tôi xin kêu gọi sự giúp đỡ và hợp tác của tất cả các quốc gia Phật giáo trên thế giới, cùng chúng tôi hoạt động nhằm phát triển Phật giáo và văn hóa trong các cộng đồng chưa phát triển ở đất nước này.

( Theo tài liệu"Seeds of Peace", Thailand, 6/1995)

---o0o---

Kỹ thuật vi tính:
Hải Hạnh, Ðàm Thanh, 

Diệu Nga, Tâm Chánh, Nguyên Tâm
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6566)
Vào ngày 27-6-2003, Tổ chức Văn Hoá, Xã Hội và Giáo Dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) chính thức liệt Bồ-đề Đạo Tràng vào danh sách Di Tích Văn Hoá Thế Giới (World Heritage Site), đứng hàng thứ 23 trong tổng số các công trình văn hoá tôn giáo ở Ấn-độ. Sự kiện trọng đại này đã làm nức lòng tăng ni và Phật tử trên khắp năm châu bốn biển.
10/04/2013(Xem: 14826)
Vào những năm cuối đời Ðông hán, sau khi Phật giáo truyền vào TQ, trải qua những năm chiến loạn của các triều đại như Tam quốc, Tây Tấn 16 nước và Nam Bắc triều, trong chiến tranh và khổ nạn như thế, Phật giáo đã truyền bá 1 cách nhanh chóng. Các lịch đại vương triều, từ việc giữ gìn, bảo vệ chiếc ngai vàng của mình lâu dài vững mạnh, đã biết áp dụng, lưïa chọn chính sách bảo vệ và đề xướng giáo lý Phật giáo. Do vậy, chùa chiền và số lượng tăng chúng không ngừng tăng thêm.
10/04/2013(Xem: 7466)
“This is a fight between Dhamma and A-dhamma (between justice and injustice)” -­ A member of the Alliance of All Burmese Buddhist Monks. “Đây là cuộc tranh chấp giữa chánh pháp và tà thuyết (giữa công lý và bất công)”. Lời của một Thành viên trong Liên Đoàn Phật Tăng Toàn Miến.
10/04/2013(Xem: 7012)
Ngày 27/06/2002, Unesco đã chính thức ghi nhận Tháp Đại Giác là di sản của nhân loại. Có thể nói đây là một tín hiệu đầy hoan hỷ cho cộng đồng Phật giáo trên thế giới nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng. Từ nay, tất cả những người con Phật không còn lo lắng trước những “bạo lực” và “cuồng tín” của các tôn giáo cực đoan đã và đang tìm cách ngăn chặn sự phát triển và hủy diệt các Thánh địa Phật giáo.
10/04/2013(Xem: 6944)
Sự tín ngưỡng Phật giáo tại Ðài Loan bắt nguồn từ những di dân hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Ðông vào thời Minh – Thanh. Nhưng vào thời kỳ đầu này Phật giáo chỉ chú trọng đến việc cầu phước, tiêu tai, sự tu tập chủ yếu là của các cá nhân đơn lẻ, chứ chưa có những hoạt động mang tính Tăng đoàn ở qui mô lớn.
10/04/2013(Xem: 6347)
Một hiện tượng không bình thường đang dần phát triển trong giới Phật giáo Đài Loan, đó là việc ni giới Đài Loan mấy năm gần đây vận động huỷ bỏ “Bát Kỉnh Pháp”. Hiện tượng này do sư cô Thích Chiếu Huệ khởi xướng và ngày càng lan rộng, nhận định về hiện tượng này và tìm hiểu nguyên nhân mà nó phát sinh cần có cái nhìn toàn diện về xã hội và Phật giáo Đài Loan.
10/04/2013(Xem: 6987)
Từ ngày 18-27/05/2002, nhà lãnh đạo của Phật giáo Tây Tạng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, sẽ viếng thăm các tiểu bang Canberra, NSW và Victoria. Ðây là chuyến viếng thăm Úc lần thứ 4 kể từ năm 1996 của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, chuyến viếng thăm của Ngài sẽ bắt đầu từ ngày 18, và kết thúc vào ngày 27 tháng 05 năm 2002. Các sự kiện chính sẽ được diễn ra tại bốn thành phố: Melbourne, Geelong, Canberra và Sydney.
10/04/2013(Xem: 6493)
Theo tin đài VOA, ngày 8/1/2002, đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố tại tỉnh Sanarth, Bắc Ấn, ngày nào mà Tây Tạng còn chưa được giải phóng, Ngài sẽ tái sinh vào những nơi đất nước tự do.
10/04/2013(Xem: 6071)
Các con số thống kê chính thức của viện Thống Kê Úc Đại Lợi cho thấy rằng trong 5 năm vừa qua, những người dân Úc Đại Lợi không tin vào Thượng Đế (vô tôn giáo) đã giảm đi. Điều không thể chối cãi là các tín đồ Ki-Tô tiếp tục giảm sút nhiều hơn đối với đạo Anh Cát Giáo và đạo Nhà Thờ Hợp Nhất (Uniting Church), còn đạo Thiên Chúa La Mã bị giảm tượng đối ít hơn. Trong khi đó số người tự coi là vô thần giảm đi hơn là con số của năm năm về truớc. Vào năm 2001 chỉ có hơn 15% dân số bị xếp loại vô tôn giáo, so với 16.5% vào năm 1996. Các tôn giáo có tín đồ gia tăng là đạo Hồi và đạo Ấn, vì lý do di dân.
10/04/2013(Xem: 6467)
Kênh truyền hình Địa Dư Quốc Gia (National Geographic Channel) đã cho trình chiếu trong tháng 5/2002 vừa qua một loạt phóng sự (Mummy Road Show) về các xác ướp cận đại còn giữ gìn đuợc tốt. Chương trình nghiên cứu này do hai chuyên gia về xác ướp là ông Jerry Conlogue và Ron Beckett thực hiện.