Đến Đi Thong Dong (Thơ)

29/01/202220:44(Xem: 7777)
Đến Đi Thong Dong (Thơ)


Đến Đi Thong Dong.

Tiễn Ôn Đến Đi Thong Dong 

Ngày Mây Sen Trắng, Giữa Tầng Không Xanh.

Rừng Thông Gió Trúc Đầy Cành, 

Ngàn Mai Nở Rộ, Tinh Anh Địa Cầu.

Ôn Đến Thế Giới Nhiệm Mầu,

Trao Tay Chánh Niệm , Quay Đầu Bến Mê,

Thong Dong Thầy Bước Trở Về, 

Ngôi Chùa Từ Hiếu, Nằm Nghe Thông Già.

Ôn Đi Giữ Chốn Quê Nhà,

Từ Âu Á Mỹ, Chính Là Tâm Tang.

Thong Dong Đến Chốn Địa Đàng,

Leo Đồi Thế Kỷ, Giữ Ngàn Đất Sâu.

Pháp Thân Lồng Lộng Từ Lâu, 

Ôn Là Mây Trắng, Nghĩa Mầu Tinh Không.

Pháp Thân Trả Mộng Bụi Hồng,

Ôn Là Tịnh Độ, Niệm Lòng Đại Bi.

Đừng Xây Bảo Tháp Khắc Gì..? 

Đừng Nằm Một Chỗ, Đến Đi Bận Lòng.

Hoá Thân Um Nắm Tro Không,

Chia Thành Các Chốn, Làng Hồng, Làng Mai.

Các Con Lưu Ảnh Chớ Phai, 

Phải Chuyên Chánh Niệm, Ngày Dài Đến Đi.

Các Con Học Nguyện Từ Bi, 

Lắng Nghe Hiểu Biết, Những Gì Ôn Trao.

Các Con Nhớ Tập Sáng Soi, 

Phải Trong Im Lặng, Bước Vào Nhà Tâm.

Các Con Giữ Giới Giữ Thân,

Phải Luôn Đi Một, Thâm Ân Lời Thầy.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Từ Đây, 

Trong Con Là Pháp, Trong Thầy Có Con.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Chẳng Còn,

Trong Lời Thầy Dạy, Vẫn Tròn Uy Nguyên.

Quay Về Nương Bụt Cõi Huyền, 

Trong Ôn Chánh Niệm, An Nhiên Trở Về.

Quay Về Nương Pháp Thoát Mê, 

Trong Ôn An Trú, Đường Quê Hương Mình.

Quay Tăng Học Pháp Lời Kinh, 

Trong Ôn Chuyển Hoá, Tâm Linh Tháng Ngày.

Tâm Tang Tu Học Pháp Này, 

Mãi Ghi Sử Sách, Chân Thầy Tròn Trăng.

Tiễn Ôn Xứ Huế Nắng Hồng, 

Tiễn Ôn Xứ Huế, Lặng Trong Cõi Đời.

Dâng Tràng Hoa Pháo Thảnh Thơi,

Tiễn Ôn Lặng Lẻ, Bậc Thầy Lừng Danh.

Hậu Học chúng con, nhân duyên trở về chốn Tổ Đình Từ Hiếu đảnh lễ Pháp thân Đức tướng của Bậc Niên Trưởng Tông phong, chúng con biết sự hiện diện lặng thinh như mây trắng đến lạ thường, ai ai về chiêm ngưỡng, người người đứng Chánh Niệm nghe hơi thở tự do, như chính pháp hành mà Sư Ôn đã chỉ dạy hơn 70 năm du phương tìm hiểu theo công ánh của Bụt, “Vị” tình yêu đầu đời trong con.

       Giờ này chúng con thực hành pháp yên lặng như hơi thở Chánh Niệm pháp từ dung.

      Hậu học Kẻ Sĩ Không Thành  chúng con, cùng các học trò Liên Tịnh Nguyện, gia trì niệm Quán âm, vọng bái tâm tang.

Cúi xin Tôn sư nhã giám trong pháp hành Chánh Niệm tự thân. Nhân ngày tâm tang thứ 7 -tại chốn Tổ Đình Từ Hiếu- Huế. Cung tiễn Ôn Lên Đài Hoá Thân Vĩnh Hằng- Vườn Địa Đàng.

Cung kính Vọng Bái Giác Linh Sư Ôn..! 

 一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế

                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.

                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang 

                 Ngày 29-01-2022

                 Ngày Âm Lịch: 27-12-Tân Sửu.
Di-Den-Thong-Dong-1Di-Den-Thong-Dong-2Di-Den-Thong-Dong-3Di-Den-Thong-Dong-4Di-Den-Thong-Dong-5Di-Den-Thong-Dong-6Di-Den-Thong-Dong-7Di-Den-Thong-Dong-8Di-Den-Thong-Dong-9Di-Den-Thong-Dong-10

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10500)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 11046)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13621)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8894)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14934)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8589)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9102)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10289)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8988)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 15293)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.