Đến Đi Thong Dong (Thơ)

29/01/202220:44(Xem: 6528)
Đến Đi Thong Dong (Thơ)


Đến Đi Thong Dong.

Tiễn Ôn Đến Đi Thong Dong 

Ngày Mây Sen Trắng, Giữa Tầng Không Xanh.

Rừng Thông Gió Trúc Đầy Cành, 

Ngàn Mai Nở Rộ, Tinh Anh Địa Cầu.

Ôn Đến Thế Giới Nhiệm Mầu,

Trao Tay Chánh Niệm , Quay Đầu Bến Mê,

Thong Dong Thầy Bước Trở Về, 

Ngôi Chùa Từ Hiếu, Nằm Nghe Thông Già.

Ôn Đi Giữ Chốn Quê Nhà,

Từ Âu Á Mỹ, Chính Là Tâm Tang.

Thong Dong Đến Chốn Địa Đàng,

Leo Đồi Thế Kỷ, Giữ Ngàn Đất Sâu.

Pháp Thân Lồng Lộng Từ Lâu, 

Ôn Là Mây Trắng, Nghĩa Mầu Tinh Không.

Pháp Thân Trả Mộng Bụi Hồng,

Ôn Là Tịnh Độ, Niệm Lòng Đại Bi.

Đừng Xây Bảo Tháp Khắc Gì..? 

Đừng Nằm Một Chỗ, Đến Đi Bận Lòng.

Hoá Thân Um Nắm Tro Không,

Chia Thành Các Chốn, Làng Hồng, Làng Mai.

Các Con Lưu Ảnh Chớ Phai, 

Phải Chuyên Chánh Niệm, Ngày Dài Đến Đi.

Các Con Học Nguyện Từ Bi, 

Lắng Nghe Hiểu Biết, Những Gì Ôn Trao.

Các Con Nhớ Tập Sáng Soi, 

Phải Trong Im Lặng, Bước Vào Nhà Tâm.

Các Con Giữ Giới Giữ Thân,

Phải Luôn Đi Một, Thâm Ân Lời Thầy.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Từ Đây, 

Trong Con Là Pháp, Trong Thầy Có Con.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Chẳng Còn,

Trong Lời Thầy Dạy, Vẫn Tròn Uy Nguyên.

Quay Về Nương Bụt Cõi Huyền, 

Trong Ôn Chánh Niệm, An Nhiên Trở Về.

Quay Về Nương Pháp Thoát Mê, 

Trong Ôn An Trú, Đường Quê Hương Mình.

Quay Tăng Học Pháp Lời Kinh, 

Trong Ôn Chuyển Hoá, Tâm Linh Tháng Ngày.

Tâm Tang Tu Học Pháp Này, 

Mãi Ghi Sử Sách, Chân Thầy Tròn Trăng.

Tiễn Ôn Xứ Huế Nắng Hồng, 

Tiễn Ôn Xứ Huế, Lặng Trong Cõi Đời.

Dâng Tràng Hoa Pháo Thảnh Thơi,

Tiễn Ôn Lặng Lẻ, Bậc Thầy Lừng Danh.

Hậu Học chúng con, nhân duyên trở về chốn Tổ Đình Từ Hiếu đảnh lễ Pháp thân Đức tướng của Bậc Niên Trưởng Tông phong, chúng con biết sự hiện diện lặng thinh như mây trắng đến lạ thường, ai ai về chiêm ngưỡng, người người đứng Chánh Niệm nghe hơi thở tự do, như chính pháp hành mà Sư Ôn đã chỉ dạy hơn 70 năm du phương tìm hiểu theo công ánh của Bụt, “Vị” tình yêu đầu đời trong con.

       Giờ này chúng con thực hành pháp yên lặng như hơi thở Chánh Niệm pháp từ dung.

      Hậu học Kẻ Sĩ Không Thành  chúng con, cùng các học trò Liên Tịnh Nguyện, gia trì niệm Quán âm, vọng bái tâm tang.

Cúi xin Tôn sư nhã giám trong pháp hành Chánh Niệm tự thân. Nhân ngày tâm tang thứ 7 -tại chốn Tổ Đình Từ Hiếu- Huế. Cung tiễn Ôn Lên Đài Hoá Thân Vĩnh Hằng- Vườn Địa Đàng.

Cung kính Vọng Bái Giác Linh Sư Ôn..! 

 一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế

                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.

                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang 

                 Ngày 29-01-2022

                 Ngày Âm Lịch: 27-12-Tân Sửu.
Di-Den-Thong-Dong-1Di-Den-Thong-Dong-2Di-Den-Thong-Dong-3Di-Den-Thong-Dong-4Di-Den-Thong-Dong-5Di-Den-Thong-Dong-6Di-Den-Thong-Dong-7Di-Den-Thong-Dong-8Di-Den-Thong-Dong-9Di-Den-Thong-Dong-10

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 7562)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10296)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9268)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10890)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9402)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8634)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8876)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9861)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10015)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12810)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.