Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

23/01/202219:11(Xem: 6164)
Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

su ong nhat hanh 9


Nụ Cười Thiền Sư.


Mây Bay Giữa Chốn Địa Đàng,
Mưa Rơi Tiễn Góc, Y Vàng Thiền Tăng.
Dương Xuân Ước Hạt Vầng Trăng,
Lắng Nghe Trượng Thất, Giữa Tầng Hư Không.

Uy Nguyên Nhiếp Niệm Cõi Lòng,
Sư Ông Từ Giã, Trần Hồng Thế Gian.
Cố Đô Xứ Huế Hương Tang,
Vàng Thanh Nâu Trắng, Dịu Dàng Lặng Yên.

Thực Tập Chánh Niệm Phật Truyền,
Sư Ông Nhất Hạnh, Khơi Duyên Trở Về.
Tăng Thân Khắp Chốn Tỉnh Mê,
Dụng Hơi Thở Nhẹ, Trên Quê Hương Mình.

Quán Âm Vọng Tiếng Triều Kinh,
Bé Thơ Hiện Hữu, Chút Tình Trăm Năm.
Đường Mây Không Diệt Ta Nằm,
Không Sinh Hoán Chuyển, Chúng Tăng Lưu Truyền.

Làng Mai Khai Kiến Đạo Tràng,
Kim Sơn- Lục Uyển, Chuông Ngân Thiền Hành.
Năm Châu Khắp Chốn Tôn Danh,
Hoà Bình Trình Kiến, Niệm Thành Đại Bi.

Hoá Nguyện Ký Tất Ra Đi,
Ôm Tâm Tịnh Độ, Dung Nghi Tình Thầy.
Trăm Năm Dấu Ngọc Phơi Bầy,
Thi Âm, Dịch Chú, Kinh Này Truyền Lưu.

Đèn Thiền Truyền Kệ Chân Tu,
Dòng Chân- Tiếp Thiện, Dáng Từ Pháp Âm.
Hoá Ra Hạt Nắng Nhã Thầm,
Hoá Vô Biên Cõi, Phương Ngàn Bối Am.

Bây Chừ Tịnh Độ Hương Ban,
Di Đà Thánh Chúng, Rải Ngàn Hương Thơm.
Chốn Từ Hiếu, Dưỡng Am Thân,
Từ Sơ Tâm Học, Chứng Phần Vô Sanh.

Quê Hương Nước Việt Ghi Danh,
Phương Tây Truyền Pháp, Âm Thanh Ngàn Đời.
Sư Ông Nhất Hạnh Thảnh Thơi,
Xã Buông Thân Huyễn, Nụ Cười Thiền Sư.
      Duyên Xưa Trùng Phùng:
     Chúng con, Hàng hậu học kính dâng lên Sư Bá Trừng Quang- Phùng Xuân- Hiệu Nhất Hạnh Trưởng Lão Thiền Sư Tăng.
     Đêm Khuya chuông ngân vọng, từ Chốn Tổ Đình, Chư huynh đệ Tông Môn Chốn Từ Hiếu Tổ Đình, kính báo là Sư Ông Nhẹ Góc Trong Chánh Niệm, Ký Tất Tịnh Độ, Quy Tịch Trăm Năm, Chúng con hạnh phúc khi được làm người hậu học trong con cháu chốn Tổ Đình Từ Hiếu, học pháp một thời, lắng nghe Duy Thức Học, Mà Sư Bá truyền dạy từ xứ Mỹ, Xứ Pháp lang truyền về Chốn Tổ.
      Chúng con, học được Pháp Hoa, từ sâu trong Chánh niệm, thực hành nghi thức Thiền Môn, nuôi dưỡng tâm tánh thiện chủng xuất gia, học và thực hành pháp môn bé thơ xuất hiện giữa dòng thế gian.

       一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈新圓寂.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 22-01-2022
                 Ngày Âm Lịch: 20-12-Tân Sửu.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10142)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9117)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10602)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9084)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8554)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8751)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9803)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9857)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12773)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8242)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.