Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

23/01/202219:11(Xem: 6694)
Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

su ong nhat hanh 9


Nụ Cười Thiền Sư.


Mây Bay Giữa Chốn Địa Đàng,
Mưa Rơi Tiễn Góc, Y Vàng Thiền Tăng.
Dương Xuân Ước Hạt Vầng Trăng,
Lắng Nghe Trượng Thất, Giữa Tầng Hư Không.

Uy Nguyên Nhiếp Niệm Cõi Lòng,
Sư Ông Từ Giã, Trần Hồng Thế Gian.
Cố Đô Xứ Huế Hương Tang,
Vàng Thanh Nâu Trắng, Dịu Dàng Lặng Yên.

Thực Tập Chánh Niệm Phật Truyền,
Sư Ông Nhất Hạnh, Khơi Duyên Trở Về.
Tăng Thân Khắp Chốn Tỉnh Mê,
Dụng Hơi Thở Nhẹ, Trên Quê Hương Mình.

Quán Âm Vọng Tiếng Triều Kinh,
Bé Thơ Hiện Hữu, Chút Tình Trăm Năm.
Đường Mây Không Diệt Ta Nằm,
Không Sinh Hoán Chuyển, Chúng Tăng Lưu Truyền.

Làng Mai Khai Kiến Đạo Tràng,
Kim Sơn- Lục Uyển, Chuông Ngân Thiền Hành.
Năm Châu Khắp Chốn Tôn Danh,
Hoà Bình Trình Kiến, Niệm Thành Đại Bi.

Hoá Nguyện Ký Tất Ra Đi,
Ôm Tâm Tịnh Độ, Dung Nghi Tình Thầy.
Trăm Năm Dấu Ngọc Phơi Bầy,
Thi Âm, Dịch Chú, Kinh Này Truyền Lưu.

Đèn Thiền Truyền Kệ Chân Tu,
Dòng Chân- Tiếp Thiện, Dáng Từ Pháp Âm.
Hoá Ra Hạt Nắng Nhã Thầm,
Hoá Vô Biên Cõi, Phương Ngàn Bối Am.

Bây Chừ Tịnh Độ Hương Ban,
Di Đà Thánh Chúng, Rải Ngàn Hương Thơm.
Chốn Từ Hiếu, Dưỡng Am Thân,
Từ Sơ Tâm Học, Chứng Phần Vô Sanh.

Quê Hương Nước Việt Ghi Danh,
Phương Tây Truyền Pháp, Âm Thanh Ngàn Đời.
Sư Ông Nhất Hạnh Thảnh Thơi,
Xã Buông Thân Huyễn, Nụ Cười Thiền Sư.
      Duyên Xưa Trùng Phùng:
     Chúng con, Hàng hậu học kính dâng lên Sư Bá Trừng Quang- Phùng Xuân- Hiệu Nhất Hạnh Trưởng Lão Thiền Sư Tăng.
     Đêm Khuya chuông ngân vọng, từ Chốn Tổ Đình, Chư huynh đệ Tông Môn Chốn Từ Hiếu Tổ Đình, kính báo là Sư Ông Nhẹ Góc Trong Chánh Niệm, Ký Tất Tịnh Độ, Quy Tịch Trăm Năm, Chúng con hạnh phúc khi được làm người hậu học trong con cháu chốn Tổ Đình Từ Hiếu, học pháp một thời, lắng nghe Duy Thức Học, Mà Sư Bá truyền dạy từ xứ Mỹ, Xứ Pháp lang truyền về Chốn Tổ.
      Chúng con, học được Pháp Hoa, từ sâu trong Chánh niệm, thực hành nghi thức Thiền Môn, nuôi dưỡng tâm tánh thiện chủng xuất gia, học và thực hành pháp môn bé thơ xuất hiện giữa dòng thế gian.

       一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈新圓寂.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 22-01-2022
                 Ngày Âm Lịch: 20-12-Tân Sửu.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8778)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10708)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14224)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25935)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15552)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9923)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17947)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15774)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13383)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8822)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.