Ráng Hồng Tinh Nghiêm.

08/06/202015:05(Xem: 9609)
Ráng Hồng Tinh Nghiêm.

ht thich phuoc son 1937-2020


Ráng Hồng Tinh Nghiêm.



Thơm trong nguồn pháp tịnh duyên,
Một đời nguyện giữ, cõi thiền luật nghi.
Thanh bần an trú từ bi,
An nhiên chánh pháp, đến đi thường tình.

Đất Bình Định thấm huyền sinh,
Ngài vào cõi tục, chuyển hình xuất gia.
Ngộ tâm phân sử chánh Tà,
Khai Thông dòng Pháp, vào nhà Chân như.

Tôn Đức TRÍ THỦ Bái sư,
Già Lam xuống tóc, giã từ thế nhân.
Linh Sơn tham học uyên thâm,
Nối Dòng Lâm Tế, ứng tầm thiền gia.

Ba y bình bát Ca Sa,
Truyền Trao diệu lý, mây Hà tình không.
Giữa cuộc đời nhuốm cõi lòng,
Ôn từ dung dị, ráng hồng tinh nghiêm.

NGUYÊN trao huyền giã thiền viên,
HÙNG uy nghiên cứu, gói miền Nam xưa.
PHƯỚC trao giảng chánh pháp thừa
SƠN tầm linh điểm, rọi vừa đèn sương.

Vạn Hạnh thiền viện tuyên dương,
Nương từ truyền luật, thừa đương pháp mầu.
Hàng hàng lớp lớp tin sâu,
Nhân duyên ba cõi, giã cầu thanh âm.

Lời Ôn dạy sáng chữ Tâm,
Tu hành tinh tấn, hương tầm thanh quy.
Ôn biết rõ cõi đến đi,
Dự tri thời trí, hương bi buôn nhàn.

Thong dong niệm Phật âm vang,
Dịch trao Tác Phẩm, lụa tràng dâng hoa.
Di Đà chím phẩm bảo toà,
Nhẹ buôn hơi thở, tâm hoà Lạc bang.

Trưởng Lão Hoà Thượng thượng Phước hạ Sơn.
( 1937-2020 ).
- Nguyên  Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
- Giám luật thiền viện Vạn Hạnh - Q.Phú Nhuận.
- Nguyên giảng viên luật học Phật giáo -HVPGVN TẠI TPHCM.

Hoá duyên viên mãn, niên cao lạp trưởng, an nhiên xã báo, đã thu thần viên tịch vào lúc:

2 giờ 56 phút hôm nay, ngày 16 tháng 4 nhuận năm Canh Tý (7-6-2020) tại thiền viện Vạn Hạnh.
Trụ thế: 84 năm,
Tăng Lạp: 47 mùa an cư.

Ngài là một bậc cao tăng thạc đức, một nhà Phật học lỗi lạc, một dịch giả, tác giả nổi tiếng, một giáo thọ sư của nhiều thế hệ tăng ni Việt Nam.
 Ngài là bậc giáo phẩm nghiêm mật hành trì giới luật, bậc Thầy mẫu mực của nhiều thế hệ Tăng Ni tại các Phật học viện, Trường Cao cấp Phật học VN nay là Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM.
Cả một đời cống hiến, khép cánh cửa thiền thất dịch thuật, an trú trong pháp Tạng.
Ngài là một học giả với tính cách cẩn thận, dịch giả của nhiều bộ luận, tác giả của nhiều công trình Phật học giá trị.



ht phuoc son (1)ht phuoc son (2)ht phuoc son (3)ht phuoc son (4)ht phuoc son (5)ht phuoc son (6)



Tác phẩm của Trưởng lão HT.Thích Phước Sơn rất đồ sộ, có thể kể một số như:
  - Tam Tổ thực lục (1995).
  - Phương pháp khoa học của Duy thức (dịch, 2000).
 -       Truyện cổ sự tích cứu vật phóng sinh (2001).
-   Thơ thiền Việt Nam (2002).
- Luật Ma-ha Tăng-kỳ (dịch, 4 tập, 2003).
- Giải trình ý nghĩa Vu lan (2004).
- Thanh tịnh đạo luận toát yếu (2006).
- Luật học tinh yếu (2006).
- Một số vấn đề về Giới luật (2006).
- Ấn Độ Phật giáo nguyên lưu giảng lược (dịch, 2008).
- Lịch sử phiên dịch Hán tạng (dịch, 2008).
- Sắc tu Bách Trượng thanh quy (đồng dịch giả, 2 tập, 2008).
- Lịch sử biên tập Thánh điển Phật giáo Nguyên thủy (đồng tác giả, 2 tập, 2015).
- Phật học khái yếu (2010).
- Tính chất trí tuệ và nhân bản của đạo Phật (2013).
- Tu tập Chỉ Quán tọa thiền pháp yếu (dịch, 2012).
- Toàn Tập Thích Phước Sơn( 1-6 Tập)

cùng nhiều bài viết, nghiên cứu Phật học, văn hóa dân tộc xuất bản trên Báo Giác Ngộ từ thập niên 90 của thế kỷ XX, các tạp chí, kỷ yếu hội thảo trong và ngoài nước.

        Dấu ấn mà Trưởng lão Hòa thượng để lại cho người tiếp xúc chính là sự nhẫn nại, khiêm cung, khép mình và nghiêm mật trên con đường giáo dục, một lòng nghiên cứu và thực hành giáo pháp của Đức Thế Tôn và tuệ giác của chư vị Tổ sư để lại.

          Trưởng lão HT.Thích Phước Sơn là vị giáo phẩm khả kính, trú xứ tại thiền viện Vạn Hạnh, một đời cộng sự, gắn bó trong các Phật sự giáo dục, nghiên cứu Phật học bên cạnh cố Trưởng lão HT.Thích Minh Châu.

Chúng con : Tk Thích Minh Thế có nhân duyên trở về tham vấn, trong những năm: 2009-2010-2012-2015-2017-2019.
Mỗi lần là nhân duyên khác nhau, khi tháp tùng với quý Ôn Thái Hoà, Ôn Chơn Trí khi có dịp vào đảnh lễ, hay chúng con vào Sài gòn có dịp là vào thăm sức khỏe Ôn, nhìn Ôn với dáng từ thanh mảnh, nhưng trí sáng nghiêm từ, nụ cười hoan hỷ, nếu trong phòng có tác phẩm nào đều dành tặng cho chúng con.

Ôn thường dạy cho chúng con rất nhiều, chúng con ghi nhớ và Ôn trao lại những lời cô đọng.
Con nhớ và lưu giữ những pháp học quý, để mang vào tâm con ứng hành.
Ôn dạy rằng:
" Tu học là cần mẫn an trú trong pháp hành, đọc kinh tạng mà hành trì, vận luật nghi vào đời lấy giới Đức làm thầy.
Ai cũng có nhân duyên nên tham vấn đảnh lễ cầu pháp và an trú trong bát chánh tự thân. Ôn mong con giữ gìn....!"
Lời dạy ấy vẫn còn vang vọng, chúng con đang vân trình du hoá tại xứ Bắc, rạng sáng nay khi thức dạy hình Ôn lưu khắp trên trang Facebook, trên trang nhà Duy Tuệ Thị Nghiệp.
Hình ảnh Ôn đang hiện về, đọc di nguyện Ôn chúng con cần phải học.
Di nguyện có đoạn:
"Tang lễ tổ chức tại thiền viện Vạn Hạnh, ngắn ngày, nhẹ nhàng, không trống kèn, nghi lễ ngắn gọn, miễn phúng điếu và vòng hoa, không ghi sổ tang. Tịnh tài còn lại được sử dụng vào việc ấn tống kinh sách...."
Chúng con vọng về giác linh đài nơi lưu giữ nhục thân Ôn.
Cung kính Bái tiễn Ôn Hồi Quy Tây Cảnh, Cửu Liên An Tọa, nơi ấy có các bậc trưởng tử Như Lai nghi tiếp.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh:Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 07-06-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 16-04- Nhuận- Canh Tý.
Cung tiễn Ngài Hồi Quy.
Nhất tâm đảnh lễ tự Lâm Tế Chánh tông Tứ thập tứ thế huý thượng Nguyên hạ Hùng tự Phước Sơn hiệu Thuận Tịnh Trưởng lão Giác linh Hoà thượng



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2011(Xem: 8175)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 9028)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9679)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12820)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 8089)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9309)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9297)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18685)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 19137)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9628)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.