Tiễn Biệt Thầy

23/04/202009:28(Xem: 6109)
Tiễn Biệt Thầy


ht dong chon 3

Tiễn Biệt Thầy


Con rời trường đã hơn 15 năm, thời gian ấy không quá dài nhưng đủ để thấy đời phôi phai. Học Phật, tu Phật và thực hành theo con đường giác ngộ của Phật suốt hơn 30 năm, con vẫn chưa thấm hết bài học vô thường để chuyển hóa chuyện tử biệt sanh ly. Những tưởng kho tàng giáo điển cao siêu mầu nhiệm của đức Thế Tôn có thể giúp con thôi tiếc nuối trước cảnh Thầy đi – Con ở, nhưng chuyện hồng trần tan – hợp vẫn khiến con không khỏi ngậm ngùi!

Con may mắn dự vào khóa III trường Trung cấp Phật học Nguyên Thiều, mảnh đất Thánh địa đã đào tạo nên bao thế hệ Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Dù chỉ học 3 năm cuối với tấm bằng tốt nghiệp chẳng phải xuất sắc gì, nhưng con luôn tự hào vì mình được đào tạo ở môi trường này, đó là những tháng ngày con trân trọng và không thể nào quên.

Ngày bước vào Tu viện Nguyên Thiều, đến 214 bộ chữ Hán con còn chưa được học làu thông, nói gì đến rừng Nho biển Hán quý thầy, quý sư lên lớp dạy mỗi ngày. Hồi đó con tệ lắm, chẳng dám cho ai biết cái dở, cái yếu kém của mình, đã dốt mà còn dấu. Để mấy tháng đầu nhập trường cứ lớ ngớ, ngẩn ngơ, con phần con, chữ Hán phần chữ Hán. Căng thẳng và lo lắng nhất là mỗi giờ lên lớp của cố Hòa thượng Giám luật, nào là Bách Pháp Minh Môn, nào là Phật Thừa Tông Yếu Luận,… Môn nào cũng chỉ toàn chữ Nho là Nho. Sợ nhất là mỗi lần dò bài, nếu không thuộc, không dịch được, không viết được chữ Hán, lại phải ngại ngùng trước cả trăm huynh đệ bên dưới. Thật hỗ thẹn lắm thay!

Trong rất nhiều bộ môn học toàn chữ Hán, ngoài các môn học của cố Hòa thượng Giám luật ra, còn lại một môn chúng con cũng ơn ớn khi học, đó là các bộ luật của cố Hòa thượng chùa Bình An. Hình như từ khi bước vô trường, Người chưa bao giờ dạy chúng con ngày nào bằng Việt ngữ, cứ sách chữ Hán, âm trước nghĩa sau, cầm đọc ro ro như người bản xứ. Suốt ba năm trời được đào luyện các bộ Kinh, Luật, Luận bằng chữ Hán, quý Ngài đã phần nào giúp chúng con xóa được nạn mù chữ Hán thâm căn.

Lưu lại Bình Định suốt 3 năm dài tu học, con mang ơn Ban giám hiệu trường, mang ơn quý giáo thọ sư, mang ơn quý Ni sư quản chúng, mang ơn chư huynh đệ thân thương, đã luôn bảo bọc, chở che, nâng đỡ và dạy dỗ để vun bồi giới thân huệ mang cho con. Tuy nhiên, tận sâu trong tâm khảm lòng mình, có 3 vị thầy luôn khiến trái tim con kính thương và ngưỡng mộ; cố Hòa thượng Giám Luật, cố Hòa thượng Thích Đồng Tịnh và cố Hòa thượng chùa Bình An. Xin cho phép con được gọi như vậy vì thật sự có dùng những mỹ từ cao siêu hơn thì với con những gì giản dị nhất vẫn là những gì tôn kính nhất.

Ngày cố Hòa thượng Giám Luật và cố Hòa thượng Thích Đồng Tịnh quảy dép về Tây, một cảm giác tiếc nuối và kính thương dâng ngập cõi lòng. Có điều gì đó mất mát và không nở mà chẳng diễn tả được thành câu. Đến khi hay tin cố Hòa thượng chùa Bình An thuận thế về bên Phật, nỗi mất mát ấy như vụn vỡ trong lòng. Những vị thầy, những vị ân sư mà con từng kính ngưỡng, từng tôn thờ đã thật sự rời bỏ chúng con mà đi. Trên đời, có những sự mất mát rất khó lòng bù đắp!

Kính lạy Giác linh Thầy!

Thế là từ nay vĩnh biệt, thế là biển chữ Hán mênh mong không còn được tiếp tục với bao thế hệ học trò như trước kia. Ngày tiễn biệt thầy, chúng con cũng chẳng có mặt để tiễn đưa, cuộc đời đôi khi không như mình mong đợi. Nhưng thầy ơi, những giờ lên lớp của thầy đối với chúng con vẫn còn sống mãi, các bộ Luật thầy giảng dạy bằng Hán ngữ vẫn được chúng con mang theo trong hành trang tu học của mình. Với ngôn từ giản dị, ánh mắt mến thương, Người luôn cho chúng con những trận cười thâm thúy, từ mẫn với chúng con những kỳ kiểm tra, những khi dò bài chẳng thuộc, những đoạn dịch chẳng trôi câu. Người sợ chúng con đường tu không trọn, gió chướng quật ngã nên khuyên răn bằng những ngôn từ chất phác, bình dị nhất. Chỉ bấy nhiêu thôi là chúng con nhớ đến suốt đời.

Kính lạy Giác linh thầy!

“Cội tùng, từ nay đã đổ

Gốc bách, giờ đã trơ cành

Bậc Đống lương, về cõi an lành

Đấng Long tượng, nghìn thu cách biệt”

Hơn 15 năm qua, con từ giả ngôi trường Phật học thân thương, miệt mài trên con đường lý tưởng của mình. Con ít về thăm trường, hiếm khi giao lưu cùng huynh đệ trong khóa. Con biết mình chưa hoàn hảo, nhưng con đang cố gắng từng ngày để hoàn thiện bản thân, để làm được điều gì đó hữu ích cho cộng đồng, xã hội và cho Phật giáo Việt Nam. Tất cả những gì con làm để tốt đời, đẹp đạo hôm nay, chỉ mong đền đáp chút ân tình mà Thầy và chư vị Giáo thọ sư đã dày công dạy dỗ con trong bước đầu học Phật.

Giới luật tinh nghiêm, công hạnh tròn đầy, chắc chắn giờ này Thầy đang ở cảnh giới an lành nào đó. Chỉ mong ở trên cao xa kia, Thầy luôn gia hộ cho chúng con, những đứa học trò lâu lâu ương bướng, thường thường dễ thương của Thầy luôn được thuận duyên trên bước đường tu đạo và hành đạo, mong được nối nghiệp quý Ngài trong việc “hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” trong muôn một.

Tưởng nhớ đến Thầy, con kính ghi vài dòng tiễn biệt. Ngàn sau dẫu có phai màu, thế gian này vẫn còn lưu dấu, có một đứa học trò từ miền Nam, nhập học muộn, trình độ bình thường nhưng luôn hướng về Thầy cả bằng trái tim chân thành nhất.

Học trò cũ của Thầy. Kính tri ân!

Thích Nữ Nhuận Bình

Cựu Ni sinh khóa III, Trường TCPH Nguyên Thiều, Bình Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/05/2013(Xem: 20119)
Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát mà chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử quen biết xa gần đều rất khó quên : Nơi các Đại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chẩn tế trong những ngày lễ hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đai chúng; nơi các bịnh nhân, Thầy là vị lương y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu Kinh ngắn chú nguyện, người bịnh mang về uống là có thể hết bịnh (đã có nhiều người hết bịnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…
12/05/2013(Xem: 8205)
Lời Người Dịch: Hồ sơ này đã giải mật theo luật Hoa Kỳ -- tuy vẫn còn xóa trắng 2 dòng ở trang 1, và xóa trắng hai trang 3 và 4 -- sẽ cho thấy cách nhìn từ chính phủ Mỹ về tình hình Việt Nam trong thập niên 1960s. Hồ sơ này cho thấy đánh giá từ phía tình báo Hoa Kỳ về Thầy Thích Trí Quang và hoạt động của Phật Giáo VN trong năm 1966, tức là ba năm sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Một vài đánh giá trong bản văn này bây giờ đã thấy là không chính xác, khi Mỹ dựa vào suy đoán để gán ghép một mục tiêu chính trị nào đó cho một hay nhiều vị sư. Tuy nhiên, bản văn này cho thấy cái nhìn từ phía tình báo Hoa Kỳ đối với Phật Giáo trong tình hình lúc đó đang gay gắt, và sẽ chiếu rọi thêm một phần vào lịch sử phong trào Phật Giáo.
23/04/2013(Xem: 12969)
Quyển NGỮ LỤC này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư DUYÊN LỰC trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hằng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi Thiền đường cho các hành giả tu Thiền, gọi là “đả thiền thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại để làm tài liệu tham khảo.
23/04/2013(Xem: 8679)
Như đã kết thiện duyên từ thuở ấy, Giọt mưa trời tưới ngọt đất Hồ Nam. Tiêu phụ thân và từ mẫu họ Nhan Dòng vọng tộc, làm quan Thanh triều đại.
22/04/2013(Xem: 9296)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 24017)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 7689)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 17821)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 11512)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 14335)
Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng - Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”.