Đêm Hoài Niệm

09/04/202015:46(Xem: 5756)
Đêm Hoài Niệm



ht thich dong chon-14
Đêm Hoài Niệm


Đêm mùa hạ chỉ với ánh trăng thanh và vài ngôi sao nhỏ điểm xuyến trên nền trời tịch mịch. Một chút gió pha thêm chút hơi sương của núi đồi như nhắn nhủ về dư vị thăng trầm của cuộc thế. Không gian mênh mông và lòng con cũng cảm thấy trống vắng. Con nhớ đến Sư Ông. Xin cho con được gọi Hòa thượng Bình An bằng hai tiếng “Sư Ông” thân thuộc, bởi tự bao giờ con đã xem người như một người ông thật sự. Cuộc đời Ông cũng giống như ngọn gió kia, nhẹ lướt qua làm dịu mát bao tâm hồn. Rồi lại ra đi thanh thản như chiếc lá nghiêng mình trút hạt sương buổi sớm mai chẳng chút vướng bận.

Lần đầu tiên đến thăm Sư Ông và con như bị thôi miên khi cứ đứng từ xa nhìn sư ông mãi. Một hình ảnh quá đẹp! Sư ông ngồi trên chiếc ghế dài quen thuộc, lưng thẳng và hai cánh tay chạm nhẹ lên bàn để giữ tờ báo. Sự điềm nhiên hiện rõ trên gương mặt. Mọi xô bồ, tất bật, lo toan của cuộc sống dường như vắng mặt nơi người Ông khả kính này và Ông chỉ có một việc là sống trọn vẹn với giây phút hiện tại. Ai cũng muốn chụp lại những hình ảnh mình yêu thích và con cũng vậy. Nhưng khác với mọi người, con không chụp bằng máy ảnh hay điện thoại, mà chụp bằng chính cặp mắt và lưu lại nơi tâm hồn, để con có thể chiêm ngưỡng nó theo cách riêng của mình. Và hình ảnh này của Sư Ông mà con chụp được đã dạy con một bài học tuyệt vời: bài học về sự bình an.

Đức khiêm tốn- đó là bài học thứ hai con nhận được nơi Sư Ông. Bao lần qua đảnh lễ, Sư Ông đều không cho lạy mà bảo rằng: “ Ông có phước đức gì đâu mà bay lạy, lên lạy tổ là được rồi”. Và Ông còn dạy thêm: “ Bay ráng học nhanh nhanh, rồi về Ông dạy luật thêm cho. Chứ bay học trên trường cho vui, về rồi quên hết có nhớ gì đâu. Nhanh nhanh chứ để Ông chết là không ai dạy cho bay đâu”. Nghe Sư Ông nói thế con chỉ biết cười, thưa lại rằng: “ Sư Ông ráng chờ huynh đệ con đi học về nha sư ông!”. Lời nói vô tình vì nghĩ rằng: “ Sư Ông còn khỏe mà lo gì!”. Đâu hay cơn vô thường nhanh chóng để giờ đây khi nhớ lại, con không khỏi bùi ngùi. Ông đã ngoài bảy mươi, đã xa ghế giáo thọ hơn tám năm nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc truyền trao Luật tạng. Còn sức khỏe là còn dạy, Ông không muốn mang đi cái hay, cái đẹp trong Luật mà Ông đã nhận được từ các bậc tiền nhân cũng như sự thể nghiệm tâm linh của mình. Giáo pháp của Đức Phật là thiết thực hiện tại, và Ông đã mang ánh sáng Luật tạng đến với bao lớp trò. Hạnh phúc, an lạc cũng bắt đầu từ đó nảy nở nơi tâm hồn bao người.

Mùa xuân năm 2014, đó có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời con được quỳ dưới chân Sư Ông để đảnh lễ khánh tuế đầu năm. Duyên lành khi con được tháp tùng cùng quý thầy cô khóa Sáu, đến chùa Sư Ông là địa điểm cuối cùng, cả đoàn đều đã thấm mệt. Nhưng hay thay, chỉ một câu nói của sư ông mà bao mệt nhọc đều tan biến và con thấy rõ sự tươi vui của tất cả mọi người trong đoàn: “Thầy chỉ muốn nhắc mấy con: Đừng làm trái những điều mà mình đã hiểu”. Vâng, thưa Sư Ông, chỉ một câu nói thôi mà con có tu tập cả đời cũng chưa đủ. Bao nhiêu tinh túy của Luật tạng như gói gọn và hiện diện một cách sinh động trong câu nói vô cùng mộc mạc này. Con sẽ luôn ghi nhớ câu nói của Sư Ông như một lời tự nhắc mình về việc hành trì giới luật, và vì đó là món quà vô giá mà Ông đã để lại cho thế hệ mai sau.

Trăng đã khuất sau đỉnh núi, ánh sao mai dần ló dạng và sáng rỡ trên bầu trời như định hướng cho những ai còn lạc lối. Phải chăng nơi đó Sư Ông đang mỉm cười và an nhiên!

Con TN.Thanh Tâm

Thành kính đảnh lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2013(Xem: 9217)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 23734)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 7571)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 17486)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 11156)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 13848)
Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng - Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”.
10/04/2013(Xem: 11540)
Một sinh thể đã xuất hiện trong cuộc đời như chưa từng có, đến lúc từ giã ra đi cũng thật nhẹ nhàng như cánh nhạn lưng trời. Vốn xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, được bẩm thụ cái gen của tổ phụ từng nổi tiếng văn chương, lại hấp thụ tinh hoa của địa linh sông Hương, núi Ngự - một vùng đất được xem là cái nôi của văn hóa Phật giáo miền Trung. Khi trưởng thành, thể hiện phong thái của một bậc nữ lưu tài sắc vẹn toàn, nhưng túc duyên thôi thúc, sớm rõ lẽ vô thường, dễ dàng từ bỏ cảnh phú quí vinh hoa, hâm mộ nếp sống Thiền môn thanh đạm.
10/04/2013(Xem: 8643)
Cư sĩ Tâm Minh- Lê Đình Thám sanh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam-nay là tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quí nhiều đời làm quan.Thân sinh là Binh Bộ Thượng Thư Lê Đỉnh ở triều Tự đức.
10/04/2013(Xem: 9149)
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1890), tại làng Dưỡng Mông Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn Văn Toán và cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con trai thứ ba trong gia đình, bẩm tính thông minh, năm 15 tuổi Ngài đã tinh thông Nho học rõ lẽ xuất xứ ở đời, nhưng với chí khí xuất trần, muốn vươn tới một phương trời cao rộng Ngài đã xin phép song thân được xuất gia tầm sư học đạo.
10/04/2013(Xem: 14061)
Đại Lão Hoà Thượng Pháp danh Thượng Quảng Hạ Liên, Tự Bi Hoa, Hiệu Trí Hải thế danh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1926 – Bính Dần tại Sông Cầu – Tỉnh Phú Yên, trong một gia đình túc nho, tiểu thương, giàu lòng kính tin tam bảo, Hoà thượng là con thứ 8 trong gia đình với 09 Anh Chị Em được thân phụ là Cụ Ông Nguyễn Văn Phân – PD. Nhựt Minh và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Dưỡng – PD.