Kỷ Niệm Bên Thầy

10/04/202017:42(Xem: 5370)
Kỷ Niệm Bên Thầy

ht thich dong chon-27

Kỷ Niệm Bên Thầy


Thấm thoát mà thời gian đã trôi qua nhanh, mới đây thôi mà gần 49 ngày Thầy rời xa chúng coṇ. Cảm xúc nghẹn  ngào vẫn còn trong tim con, khó mà diễn tả được nỗi đau buồn này, nó cứ da diết mãi. Có lẽ con chưa chấp nhận sự thật là Thầy đã đi rồi. Con vẫn biết lời Thầy dặn dò lúc con mới xuất gia “Mọi sự mọi việc trên đời này luôn thay đổi, các pháp là vô thường. Cái chết là cái chắc chắn”. Các con hãy nỗ lực tiến tu để cảm thấy không bị vướng bận hay rằng buộc bất kỳ điều gì, dù đó là vui, buồn, hạnh phúc hay khổ đau. Rồi một ngày sự nỗ lực đó sẽ giúp con có được sự an nhiên, tự tại giữa Ta bà uế trược này. Con còn nhớ ngày chập chững bước chân vào chốn thiền môn, là khoảnh khắc đầu tiên con được nhìn và tiếp xúc với Thầy, với dáng hình giản dị của một Sơn Tăng mà trước giờ con cứ tưởng chỉ thấy trong các bộ phim, hay là huyền thoại cổ tícḥ. Một bậc Thầy đơn sơ, mộc mạc, ẩn chứa nội lực tu tập của vị Long Tượng chốn không môṇ. Từ cái nhìn ấy cho đến nay, con vẫn không thể nào quên được Thầy, biết bao nhiêu kỉ niệm, bao kí ức cứ dồi dạt ùa về khi đặt bút viết đôi dòng niệm ân Thầy.

Nhớ lại thuở xưa, khi còn là thị giả bên Thầy, có những lúc con hồn nhiên vô tư quên đi những lời căn dặn, để rồi bị Thầy la trách và bắt phạṭ. Khi ấy, trong tâm con cảm thấy buồn và tự nghĩ sao Thầy không thương mình, rất nhiều suy nghĩ hiện lên trong con, bởi lúc đó con còn quá trẻ, suy nghĩ có lúc nông cạn và không hiểu biết hết sự yêu thương của Thầy. Hằng ngày, Thầy luôn dạy huynh đệ chúng con nhiều điều, từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, cách ứng xử và kể cả cách học kinh luật để hành trì… Bao nhiêu điều tốt Thầy truyền dạy cho chúng con, Thầy biết rằng: “Thân sanh là giả tạm, rồi một ngày Thầy phải rời xa chúng con, sợ chúng con chưa đủ hành trang để tiến tu và cả bước nhập thế cứu đời”. Vì thế, Thầy dày công, Thầy cố gắng dạy rất nhiều, dạy chi tiết từ thân giáo và khẩu giáo. Cho đến bây giờ, lời dạy ấy vẫn in sâu và trong tâm thức con. Thầy nói: “Tụi con còn nhỏ, cần phải học thật nhiều, đừng chạy theo thú vui bên ngoài để rồi đánh mất lý tưởng xuất gia. Người xuất gia cần phải nỗ lực học Phật và hành trì giáo Pháp chân chính, để tăng trưởng đạo tâm vững mạnh, sau này với ý chí kiên cường, với nội tâm có tu tập, các con sẽ tự tin đứng vững trong xã hội đầy cám dỗ, sẽ vượt qua nhiều thử thách chông gai trong sự nghiệp hoằng truyền giáo Pháp, sẽ là người kế thừa Như Lai hay kế thừa sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức, của Thầy Tổ, các con nhớ rõ chứ”. Từ bài học đó, con luôn tâm niệm rằng đó sẽ mãi là kim chỉ nam cho con trên bước đường tu học từ đây cho đến mãi về sau.

Những lời Thầy dạy tuy đơn sơ, nhưng hàm chứa một triết lý của đạo Phật, giúp con có thêm nguồn năng lượng để cố gắng vượt thoát sự cám dỗ và đi đúng với con đường giải thoát mà chư Tổ đã đi qua. Kể từ ngày hôm ấy, Thầy giống như là ánh sáng trong con, luôn soi đường chỉ lối cho con, trong những lúc con bất chợt yếu mềm, thoái chí, cũng chính là Thầy đã luôn hiện hữu trong con dẫn con vượt qua trăm cuộc gian truân cuộc đời. Con nghĩ rằng: “Con là sự tiếp nối của Thầy, Thầy luôn hiện hữu trong con dẫu thân ngũ uẩn của Thầy đã không còn, nhưng chính lời dạy của Thầy vẫn luôn hằng sâu trong con mãi mãi”. Khi con rời xa Thầy để đi học Phật, mong muốn tương lai sẽ tiếp bước chân Thầy, nhưng nào đâu lại nghe tin Thầy bệnh phải nhập viện, tâm lý lúc đó con hoang man và lo lắng. Ấy vậy mà, chưa kịp về bên cạnh chăm sóc Thầy mà Thầy đã vội rời xa. Tin này càng làm con thêm chùng bước về con đường phía trước, nỗi buồn cứ luôn dày xé trái tim coṇ. Cái ngày cuối đời của Thầy mà con cũng không về bên cạnh Thầy được bởi vì thế giới đang gồng mình chống chọi với đại dịch Covid-19 và phong tỏa các chuyến bay nên con không có cơ hội bên Thầy lần sau cuối. Từ phương xa chỉ biết hướng tâm về Thầy, cầu nguyện cho Thầy an nhiên mà dời gót. Con biết chắc rằng với đạo tâm tu tập cả một đời của Thầy, Người sẽ an nhiên xả bỏ báo thân này, dự hàng Thánh chúng cõi Liên Hoa, tùy duyên hạnh nguyện hóa độ. Mong rằng Thầy thương tưởng chúng sanh còn chìm đắm trong u tối, phát hạnh nguyện hội nhập Ta bà để giúp chúng sanh thoát khổ ải sanh tử, đến bờ giải thoát an vui.

        Con hiểu rất rõ ngôn ngữ chỉ là thứ tạm bợ, làm sao mà diễn tả hết công ơn lớn lao của Thầy. Nhưng vì lòng thương nhớ bậc ân sư, xin phép cho con dùng chút ít ngôn ngữ để bày tỏ về bậc Thầy khả kính của chúng con. Kỉ niệm của con về Thầy rất nhiều, nhưng làm sao kể hết được Thầy ơi! Hai tiếng Thầy ơi! Mà tâm con trẻ như chết lặng giữa đêm khuya nơi xứ lạ quê người. Hai tiếng Thầy ơi! Chưa kịp nói lên mà Thầy đã vội ra đi, sẽ không còn cơ hội để bày tỏ, nhưng con sẽ giữ mãi những kỉ niệm đó cho riêng con về một người Thầy mà con hết mực tôn kínḥ. Đôi dòng kỉ niệm bên cạnh Thầy giờ sẽ gửi nó theo muôn ngàn gió mây mong rằng nó sẽ mang theo sự hồi ức của con về Thầy đến một nơi yên bình và hạnh phúc nhấṭ. Đây là kỉ niệm khó quên và chắc sẽ không bao giờ con quên được lời dạy của Thầy năm nào, từ thuở sơ cơ xuất gia của con.

 -Yangon, Kỉ niệm bên Thầy!-
0h00’, 8/4/2020 (16/3 Canh Tý)
Hiếu tử Thích Vạn Hy
Đầu thành khấp lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9622)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11698)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10277)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14149)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10286)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8492)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.
09/04/2013(Xem: 10547)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9403)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8616)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8372)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?