Tiễn một áng mây

25/02/202023:31(Xem: 9295)
Tiễn một áng mây

le cung tong kim quan-ht quang do (41)

TIỄN MỘT ÁNG  MÂY

 

Thế là xong một kiếp người, cho dẫu một trăm năm cũng chỉ là thoáng bóng phù sinh. Hàng ngàn Tăng Ni Phật tử nghiêng mình cung kính tiễn biệt một đấng thạch trụ Phật gia vào cõi vô sanh sáng ngày 25/02/2020, nơi âm dương cách biệt bởi lò hỏa táng Đa Phước, huyện Bình Chánh TP HCM.

Đoàn xe hai bánh của đơn vị áo lam dẫn đầu gần 20 chiếc xe chư Tăng và quần chúng tiến về công viên mai táng Đa Phước trong thầm lặng. Sau thời kinh của Chư Tôn đức, cổ Kim quan được đưa vào bên trong, cánh cửa lạnh lùng khép kín, nhục thân cố Đại lão vào lò, bên ngoài mọi người ngẩn ngơ thương tiếc hướng vào vô vọng!.

 

Ra về, đoàn tang mang khối u uẩn, tiếc nuối một cái gì vừa mất mát không thể tìm lại được, vừa thanh thản cho một cuộc sống sóng cuộn ba đào. Đời người ai chả thế, sướng khổ, nhục vinh tượng hình nhân quả. Có người chết vì danh lợi cá nhân, cũng có bậc vĩ nhân xả thân cho đại cuộc. Bao bậc lương đống xa xưa đắp xây cho ngôi nhà Phật pháp, tùy từng thời đại mà gặp phải chướng duyên. Tinh thần “vô úy” của đấng trượng phu xuất sĩ không bao giờ mang vết nhơ đời, tuy khác chánh kiến, khác lý tưởng mà nhân cách vẫn trong sáng thủy tinh! Đó là điểm cho người kính trọng, đối tượng không thể xem thường!

 

Đạo nghĩa con dòng cháu Lạc: - Nghĩa tử là nghĩa tận, dù hận thù cao ngất tầng xanh, khi gửi thân cho đất mẹ, mọi tâm tư của người còn lại đều phủi sạch như chưa từng oán hận; vâng, người chưa từng có lỗi với bất cứ cá nhân, do bất đồng quan điểm, sợi dây vô hình xuất hiện trong tâm tưởng ngăn cách bởi tấm chắn vô minh. Trời quang mây tạnh khi nhân quả nghiệp thức ra đi. Đạo lý tình người, cho dù trăm sông ngàn biển muộn phiền, khi chia tay âm dương đôi ngả, huyết thống Lạc Hồng cũng chỉ là một. Hình ảnh chư Tôn đức của các Tông môn, pháp phái, của các tổ chức hành chánh trong xã hội, trong tôn giáo, trong hệ thống hành chánh cá biệt, có mặt trong giây phút chia lìa nói lên tinh thần Lục hòa duy nhất của người con Phật. Làm sao khỏi xúc động khi TT Thanh Phong xin được cúng dường áo quan, bao Tăng Ni xin kính điếu tuy cáo bạch di huấn của cố Đại lão HT không chấp nhận, làm sao nói lên được tinh thần vô phân biệt khi có mặt HT Như Tín, HT Thiện Tánh, HT Giác Quang, và còn nhiều nữa khắp các tỉnh thành về tham dự lễ Tang, khi các Ngài vượt qua rào cản thành kiến giáo Hội truyền thống và Giáo hội đương nhiệm, để chung lòng cung tiễn nguyện cầu cho một bậc lương đống Phật giáo hoàn mãn đạo nghiệp.

 

Chỉ có dịp này, mới thấy được tinh thần hòa hợp của người con Phật. Đó cũng là di nguyện của người vĩnh viễn ra đi, và luôn là ước nguyện của toàn bộ pháp tử. Tùy từng thời thế, Phật pháp có biến thiên dưới nhiều dạng thức, nhưng pháp mạch vẫn là một, tinh thần lục hòa vẫn là một, Tăng Ni tín đồ vẫn là một, một ngôi nhà chung của đấng Từ phụ. Trai đàn chẩn tế ba miền năm xưa của Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng không ngoài mục đích đoàn kết xã hội, đoàn kết Tăng tín đồ ba miền, lãnh đạo Phật giáo hiện nay, cho dù truyền thống hay đương thời, các Ngài cũng luôn mang tâm nguyện mọi người con Phật đều chung tay dưới mái nhà chung để cùng tu tập, mục đích của chư Phật đem chúng ta đến con đường giải thoát, không vì lý do nhất thời của thế tục mà làm gián đoạn lý tưởng “phát túc siêu phương khi tự nguyện thoát hình dị tục” vì các Ngài vẫn là Thiên nhân chi đạo sư. Hình ảnh và tâm nguyện cao đẹp đó luôn là ánh đuốc soi lối cho nhân sanh. Trước khổ đau dồn dập của kiếp người, thiên tai hoạn nạn trong cuộc sống, chúng ta cần gần nhau hơn, giúp nhau tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, thấy được giá trị giáo pháp của Như Lai.

 

‘Người ra đi chỉ là giấc ngủ trong dòng sinh tử miên viễn, để rồi tâm nguyện chấn hưng Phật pháp, người sẽ hồi đáo Ta bà tiếp tục tâm nguyện xa xưa.”người nằm ngủ từ ngàn năm thấp thoáng – ta bước qua ngôn ngữ rụng hai lần” vâng, Bùi Giáng đã nhận chân được lý tính duyên khởi, lý tính vô sanh, vì thế, cho dù khen chê, cho dù thương ghét, ca tụng hay báng bổ đối với bậc Thượng nhân chỉ là vọng âm. Tâm đại lượng của bậc Chân sư thể hiện qua lời di huấn, thời hiện tại, PGVN đã làm cuộc cách mạng lớn từ hai gốc đại thụ: Cố đại lão Hòa Thượng thượng Trí hạ Quang và Bồ tát Vô úy Đại lão HT thượng Quảng hạ Độ, xem nhục thân chỉ là tro bụi, vì thế di huấn cho pháp tử không tràng hoa phúng điếu, đơn giản đến độ không thể đơn giản hơn.

                                                       ***

 

Đêm cuối cùng, trên 500 Tăng Ni Phật tử thành tâm trì tụng Kinh Di Giáo, ôn lại lời dạy của đấng Thế tôn, nguồn tâm linh xuyên sâu vào từng con tim để cảm nhận được pháp mạch sẽ tồn tại, tuy ngôi nhà Phật pháp lần lượt trống vắng những bậc Cao Tăng thạc đức, nhưng mạng mạch Phật pháp vẫn trường lưu khi chư Tăng vẫn còn những bậc giới đức tinh nghiêm, thân tâm thanh tịnh. Một áng mây đen vừa phủ, nhưng chân trời vẫn rạng sáng hướng Đông.

Tang lễ vừa mãn, bỗng xuất hiện nhạc phẩm:Trọn nghĩa ơn thầy (Gia huy music: Tâm ca) trên youtube không thể ngăn dòng lệ khi hình ảnh Tôn sư lần lượt xuất hiện theo từng nốt nhạc, tiễn thầy đi hay khắc sâu vào lòng người hình ảnh cao đẹp, nhân thân đạo đức sáng ngời cho đàn hậu thế noi gương!

 

MINH MẪN

25/02/2020

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11677)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16755)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 9232)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17820)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
09/04/2013(Xem: 9472)
Bác Phạm Đăng Siêu sinh ngày 4 tháng 7 năm Nhâm tý (1912) tại Phú Hòa, kinh đô Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên quán thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa, phủ Tân Định, tỉnh Gò Công. Song thân Bác là cụ ông Phạm Đăng Nghiệp và cụ bà Tôn Nữ Thị Uyên, thuộc gia đình quý tộc giàu có.
09/04/2013(Xem: 8657)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
09/04/2013(Xem: 10301)
Hòa Thượng thế danh Phan Công Thành, pháp danh Nguyên Trạch, tự Chí Công, Hiệu Giác Lâm, thuộc đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán.
09/04/2013(Xem: 21540)
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Nam cũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuất gia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngài kể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dưới bàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật, sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đã thấy được trí tánh thông minh của Thầy......
09/04/2013(Xem: 8700)
Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này.
09/04/2013(Xem: 8450)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận-Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðét miền Nam nước Việt, sinh Năm Ất Hợi (1935). Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu.