Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)

02/01/202010:07(Xem: 13587)
Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)
ht tri quang 1923-2019
Giữ Tâm Đại Nguyện.

Thét gầm sư tử trùng duyên,
Gá thân mở lối, giữa huyền thiền môn.
In lời nguyện ước Thế Tôn,
Ba y nhất xứ, nhã ngôn thét gầm.

Quyện thân tuyệt thực Trăm tầm,
Gối tri tuệ giác, giữa trần hồng say.
Dịch từng con chữ đông đầy,
Lời ca Đức Phật, Tổ Thầy bảo ban.

Dụng hành kinh Pháp Hoa Trang,
Kinh văn Thủy Sám, Cú đàm Nam Tông.
Lương Hoàn Sám nguyện truy phong,
Lạy từng Vạn Phật, nối dòng Luật Nghi.

Dự thời Nạn Pháp ba thì,
Giữ tâm địa nguyện, huyền vi Đạo Tình.
Rung thời xứ Mỹ rung rinh,
Ngôn Thông Mật giáo, Luật Kinh Luận hàm.

Sám mươi năm kiết thất tràm,
Ấn Quang Một thữa, niệm ngàn Tu Bi.
Già Lam chốn tuệ đến đi,
Tu trì mật ngữ, khắc ghi lời Thầy.

Từ Đàm ấn giã huyền mây,
Phổ Minh thế Phát, y bay pháp huyền.
Dung từ áng nhật chân nguyên,
Gởi thân tạm giã, chuyến thuyền liên hoa.

Trà Tỳ lửa bốc uy toà,
Xá Lợi Thủ Ngọc, dung hoà nhân duyên.
Mây trời đất ước mộng bền,
Cung tiễn Thượng Trí, dạo niềm Lạc Bang.

Lưu trang Ngọc tuệ y vàng,
Thiên từ Ân hạnh, dung hành phụng thi.
Quang thượng hạ Tịnh khắc ghi,
Mây từ uy giáo, hành trì Đạo Mâm.

Năm mươi ngày vọng Thượng Nhân,
Tháp uy hùng Nhập, duyên trần mãn viên.
Cố Đô lưu ảnh chân huyền,
Ngầm bay phụng chiếu, thượng niềm thong dong.

          - Cung Kính Khể Thủ:
          Chúng con hàng hậu học ngu huyền, duyên gặp và đảnh lễ trong chốn Già Lam, nơi Cố Thượng Nhân Tôn Sư lưu dấu.
Đến đi như đúng nghĩa thét gầm, tu như kim cang bất hoại, giới hành nhượng đàn thâu, Từ như uy hùng, Nhơn như tâm sáng lộng vầng trăng.
          Giới kinh thông tuệ, giữ gìn phẩm hạnh như nền tảng căn bản, Phật Giáo Việt, giữa Niềm Nam Trung lưu nhớ, trang sử bi hùng luôn là diềm mối khắc ghi cho chúng con học từ Thượng Nhân Tôn Sư.
          Hôm nay, ngày 01-12-Kỷ Hợi, là ngày Chung Thất, theo di nguyện, trầm hùng đúng lời dạy kính lễ và bảo tháp từ nhạc trời cung tiễn dấu chân Ngài Thượng Nhân Tôn Sư nhập huyền tháp.
         "Phụng Vị Tối Thắng Tử Thiền Minh thượng Trí hạ Quang Tỳ Kheo Chi Vị."
          Con Tk: Thích Minh Thế, kẻ hậu học hiền ngu, quỳ dưới Phật Đài, chấp bút ứng thơ, dâng ngài, chúng con nguyện Cố Thựơng Nhân Tôn Sư, Thượng Phẩm Hoa Liên, an trú hồi nhập cho chúng con trí tuệ xưa.
             
 Tk: Thích Minh Thế
 Hỷ Tâm Hải Triều
Cảm tác ngày 26-12-2019, (01-12- Kỷ Hợi ),tại chùa Liên Hoa, thuộc thành phố San Antonio- Mỹ Quốc.
Trong khoá tu kiết đông.
Ngồi dưới ánh nắng trong cơn lạnh bên hiên chùa Liên Hoa.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2012(Xem: 7759)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10461)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 8137)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.
07/09/2012(Xem: 9178)
Các bạn thân mến, Tôi lớn lên trong cảnh bất công và quê hương nhuộm đầy máu lửa. Trái tim tôi đã dược nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương qua những tấm gương của các vị anh hùng yêu nuớc. Tôi yêu lí‎ tưởng Từ Bi của Đức Phật qua tinh thần bất bạo động, tôi không thích tham gia vào các tổ chức và các cuộc đấu tranh. Tôi đã đi dự những khóa tu của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai tổ chức trong một số chùa lớn của ba miền đất nuớc, trong thời gian Thầy về Việt Nam.
07/09/2012(Xem: 9206)
Trước tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch, tôi xin thành kính có bài ghi lại kỷ niệm phước duyên được nghe ngài thuyết pháp. Đó là thời điểm những năm 1978, 1979… Vào lúc ấy, Tổng vụ Hoằng Pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức thuyết pháp hàng tuần vào lúc 15h chiều chủ nhật tại trụ sở của Giáo hội là chùa Ấn Quang.
02/09/2012(Xem: 13285)
Hòa Thượng Thích Minh Châu sinh năm 1918 tại Quảng Nam. Xuất gia năm 1946 với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế...
29/08/2012(Xem: 8003)
Tôi muốn nói đến Sư Huynh Phổ Hòa, người anh lớn trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tức Huynh Trưởng HỒNG LIÊN Phan Cảnh Tuân khả kính của chúng ta.
23/08/2012(Xem: 11301)
Kính bạch Sắc tứ Thập Tháp Tổ đình, Tân tịch trụ trì Thích Kế Châu, Đại lão Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh. Hôm nay, chúng tôi là những Pháp huynh, Pháp đệ thuộc dòng pháp Chúc Thánh, Tổ đình thứ hai Quảng Nam, và dòng pháp Thiền Tôn, Tổ đình thứ ba – Huế, tại Bình Định, và cũng là con cháu tám, chín đời dòng pháp Thập Tháp – Tổ đình thứ nhất, thuộc dòng pháp Thiên đồng Trung quốc tại Việt nam. Giờ này, tất cả chúng tôi đã vân tập đông đủ trước linh đài trang nghiêm, đau buồn này để làm lễ tiễn đưa kim quan Cố Đại lão Hòa thượng vào “BẢO THÁP MẬT TÀNG”, nghìn thu an nghỉ. Kính bạch Tân tịch Đại lão Hòa thượng giác linh! Trước hết, tại nơi đây, tất cả chúng tôi: Chí thành đến trước linh tòa, Cung kính dâng lên pháp cúng Kinh diên tán tụng,
04/08/2012(Xem: 10550)
Hòa thượng Thích Duy Lực, pháp danh Duy Lực, pháp tự Giác Khai, nối pháp thiền phái Lâm Tế. Ngài thế danh La Dũ, sinh ngày 5 tháng 5 năm Quý Hợi 1923, nhằm Trung Hoa Dân quốc thứ 12, tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; thân phụ là cụ ông La Xương, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị. Ngài sinh trưởng trong một gia đình chuyên nghề nông trang, quy kính Tam bảo. Năm Mậu Dần 1938, Ngài được 16 tuổi, vừa học xong tiểu học thì phải lên đường theo cha sang Việt Nam sinh sống. Khi mới sang, gia đình Ngài dừng chân ở Cần Thơ lập nghiệp; trong những lúc rỗi rảnh Ngài thường tranh thủ tự học thên Hoa văn và quốc ngữ Việt Nam.