Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)

02/01/202010:07(Xem: 12839)
Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)
ht tri quang 1923-2019
Giữ Tâm Đại Nguyện.

Thét gầm sư tử trùng duyên,
Gá thân mở lối, giữa huyền thiền môn.
In lời nguyện ước Thế Tôn,
Ba y nhất xứ, nhã ngôn thét gầm.

Quyện thân tuyệt thực Trăm tầm,
Gối tri tuệ giác, giữa trần hồng say.
Dịch từng con chữ đông đầy,
Lời ca Đức Phật, Tổ Thầy bảo ban.

Dụng hành kinh Pháp Hoa Trang,
Kinh văn Thủy Sám, Cú đàm Nam Tông.
Lương Hoàn Sám nguyện truy phong,
Lạy từng Vạn Phật, nối dòng Luật Nghi.

Dự thời Nạn Pháp ba thì,
Giữ tâm địa nguyện, huyền vi Đạo Tình.
Rung thời xứ Mỹ rung rinh,
Ngôn Thông Mật giáo, Luật Kinh Luận hàm.

Sám mươi năm kiết thất tràm,
Ấn Quang Một thữa, niệm ngàn Tu Bi.
Già Lam chốn tuệ đến đi,
Tu trì mật ngữ, khắc ghi lời Thầy.

Từ Đàm ấn giã huyền mây,
Phổ Minh thế Phát, y bay pháp huyền.
Dung từ áng nhật chân nguyên,
Gởi thân tạm giã, chuyến thuyền liên hoa.

Trà Tỳ lửa bốc uy toà,
Xá Lợi Thủ Ngọc, dung hoà nhân duyên.
Mây trời đất ước mộng bền,
Cung tiễn Thượng Trí, dạo niềm Lạc Bang.

Lưu trang Ngọc tuệ y vàng,
Thiên từ Ân hạnh, dung hành phụng thi.
Quang thượng hạ Tịnh khắc ghi,
Mây từ uy giáo, hành trì Đạo Mâm.

Năm mươi ngày vọng Thượng Nhân,
Tháp uy hùng Nhập, duyên trần mãn viên.
Cố Đô lưu ảnh chân huyền,
Ngầm bay phụng chiếu, thượng niềm thong dong.

          - Cung Kính Khể Thủ:
          Chúng con hàng hậu học ngu huyền, duyên gặp và đảnh lễ trong chốn Già Lam, nơi Cố Thượng Nhân Tôn Sư lưu dấu.
Đến đi như đúng nghĩa thét gầm, tu như kim cang bất hoại, giới hành nhượng đàn thâu, Từ như uy hùng, Nhơn như tâm sáng lộng vầng trăng.
          Giới kinh thông tuệ, giữ gìn phẩm hạnh như nền tảng căn bản, Phật Giáo Việt, giữa Niềm Nam Trung lưu nhớ, trang sử bi hùng luôn là diềm mối khắc ghi cho chúng con học từ Thượng Nhân Tôn Sư.
          Hôm nay, ngày 01-12-Kỷ Hợi, là ngày Chung Thất, theo di nguyện, trầm hùng đúng lời dạy kính lễ và bảo tháp từ nhạc trời cung tiễn dấu chân Ngài Thượng Nhân Tôn Sư nhập huyền tháp.
         "Phụng Vị Tối Thắng Tử Thiền Minh thượng Trí hạ Quang Tỳ Kheo Chi Vị."
          Con Tk: Thích Minh Thế, kẻ hậu học hiền ngu, quỳ dưới Phật Đài, chấp bút ứng thơ, dâng ngài, chúng con nguyện Cố Thựơng Nhân Tôn Sư, Thượng Phẩm Hoa Liên, an trú hồi nhập cho chúng con trí tuệ xưa.
             
 Tk: Thích Minh Thế
 Hỷ Tâm Hải Triều
Cảm tác ngày 26-12-2019, (01-12- Kỷ Hợi ),tại chùa Liên Hoa, thuộc thành phố San Antonio- Mỹ Quốc.
Trong khoá tu kiết đông.
Ngồi dưới ánh nắng trong cơn lạnh bên hiên chùa Liên Hoa.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2013(Xem: 8745)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9683)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11485)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12868)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24194)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10156)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8639)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8545)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8446)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9614)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964