Chí Cầu Niệm Phật

21/12/201910:06(Xem: 6925)
Chí Cầu Niệm Phật

phatdida

CHÍ CẦU NIỆM PHẬT

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Ni Sư Giới Hương,

Con là Sadini Diệu Hải, sư đệ cùng thầy Hải Triều Âm với Ni sư Giới Hương. Con là đứa em hậu học, lớn tuổi, lại suốt ngày ở trong tịnh thất, quê mùa, ít tiết xúc với thế giới bên ngoài. Theo cảm nghĩ của con, Ni Sư là một người đàn chị, sư tỷ, rất thương các đàn em nhỏ, đệ tử, phật tử; Ni sư luôn luôn làm thỏa mãn mọi mong cầu tâm linh, mỗi khi ai cần nhờ đến Ni Sư, cũng không bao giờ từ chối và cũng không nề mệt mỏi. Ni Sư lại là người tu hành rất cương quyết dứt khoát, nhẫn lại, quyết trí thực hiện để đạt được ý nguyện của mình vượt qua mọi khó khăn.

Kính bạch Ni Sư: nay vâng lời Ni Sư, con xin chép lại một đoạn Kinh dạy Niệm Phật của Đại Sư Hán Sơn (Trích trong quyển "Quê Hương Cực Lạc" của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm) mà thầy Hải Triều Âm hay đọc để kính tặng Ni sư:

HÁN SƠN ĐẠI SƯ KHAI THỊ

“Mỗi ngày trừ hai thời công phu chỉ đem câu A Di Đà Phật đặt ngay ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê, hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi đến. Chỉ lấy câu Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm trí ăn uống, cử động, đi đứng, nằm ngồi một tiếng niệm Phật này thời thời hiện tiền.

Nếu gặp cảnh thuận nghịch, vui giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem tiếng niệm Phật nhiều lên, liền thấy phiền não khi ấy tiêu diệt. Bởi niệm Phật phiền não là gốc sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu trừ phiền não, liền có thì khỏi sanh tử, không có pháp gì khác.

Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng du, nếu trong mộng đã kiểm soát được thì khi bệnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được "bản thân" trong khi bệnh tật, trừ khi mạng chung liền biết chỗ sanh về.

Sự này chẳng khi cần, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết chỉ cần dựa vào một mình tiếng niện Phật, không có suy nghĩ gì khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đạo an lạc, được đại thọ dụng.”

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Tu Học và Hoằng Pháp của Ni sư, chúng con kính chúc Ni sư và chư Ni chúng chùa Hương Sen thân thương sức khỏe dồi dào, luôn niệm Phật và chia sẻ pháp môn tịnh độ này đến với mọi chúng sanh như công hạnh của Tổ Hám Sơn và Thầy Hải Triều Âm.

 

Con thành tâm kính lễ,

Tịnh Thất Giác Huệ, TX, ngày 18/11/2019

Sadini Diệu Hải
([email protected])





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9051)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 10704)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 12867)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7603)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10330)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9732)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10991)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9444)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9066)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8983)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.