Chí Cầu Niệm Phật

21/12/201910:06(Xem: 6911)
Chí Cầu Niệm Phật

phatdida

CHÍ CẦU NIỆM PHẬT

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Ni Sư Giới Hương,

Con là Sadini Diệu Hải, sư đệ cùng thầy Hải Triều Âm với Ni sư Giới Hương. Con là đứa em hậu học, lớn tuổi, lại suốt ngày ở trong tịnh thất, quê mùa, ít tiết xúc với thế giới bên ngoài. Theo cảm nghĩ của con, Ni Sư là một người đàn chị, sư tỷ, rất thương các đàn em nhỏ, đệ tử, phật tử; Ni sư luôn luôn làm thỏa mãn mọi mong cầu tâm linh, mỗi khi ai cần nhờ đến Ni Sư, cũng không bao giờ từ chối và cũng không nề mệt mỏi. Ni Sư lại là người tu hành rất cương quyết dứt khoát, nhẫn lại, quyết trí thực hiện để đạt được ý nguyện của mình vượt qua mọi khó khăn.

Kính bạch Ni Sư: nay vâng lời Ni Sư, con xin chép lại một đoạn Kinh dạy Niệm Phật của Đại Sư Hán Sơn (Trích trong quyển "Quê Hương Cực Lạc" của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm) mà thầy Hải Triều Âm hay đọc để kính tặng Ni sư:

HÁN SƠN ĐẠI SƯ KHAI THỊ

“Mỗi ngày trừ hai thời công phu chỉ đem câu A Di Đà Phật đặt ngay ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê, hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi đến. Chỉ lấy câu Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm trí ăn uống, cử động, đi đứng, nằm ngồi một tiếng niệm Phật này thời thời hiện tiền.

Nếu gặp cảnh thuận nghịch, vui giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem tiếng niệm Phật nhiều lên, liền thấy phiền não khi ấy tiêu diệt. Bởi niệm Phật phiền não là gốc sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu trừ phiền não, liền có thì khỏi sanh tử, không có pháp gì khác.

Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng du, nếu trong mộng đã kiểm soát được thì khi bệnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được "bản thân" trong khi bệnh tật, trừ khi mạng chung liền biết chỗ sanh về.

Sự này chẳng khi cần, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết chỉ cần dựa vào một mình tiếng niện Phật, không có suy nghĩ gì khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đạo an lạc, được đại thọ dụng.”

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Tu Học và Hoằng Pháp của Ni sư, chúng con kính chúc Ni sư và chư Ni chúng chùa Hương Sen thân thương sức khỏe dồi dào, luôn niệm Phật và chia sẻ pháp môn tịnh độ này đến với mọi chúng sanh như công hạnh của Tổ Hám Sơn và Thầy Hải Triều Âm.

 

Con thành tâm kính lễ,

Tịnh Thất Giác Huệ, TX, ngày 18/11/2019

Sadini Diệu Hải
([email protected])





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10339)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10151)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12899)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8729)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14773)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8518)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8948)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10135)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8863)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14499)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.