Chí Cầu Niệm Phật

21/12/201910:06(Xem: 6433)
Chí Cầu Niệm Phật

phatdida

CHÍ CẦU NIỆM PHẬT

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Ni Sư Giới Hương,

Con là Sadini Diệu Hải, sư đệ cùng thầy Hải Triều Âm với Ni sư Giới Hương. Con là đứa em hậu học, lớn tuổi, lại suốt ngày ở trong tịnh thất, quê mùa, ít tiết xúc với thế giới bên ngoài. Theo cảm nghĩ của con, Ni Sư là một người đàn chị, sư tỷ, rất thương các đàn em nhỏ, đệ tử, phật tử; Ni sư luôn luôn làm thỏa mãn mọi mong cầu tâm linh, mỗi khi ai cần nhờ đến Ni Sư, cũng không bao giờ từ chối và cũng không nề mệt mỏi. Ni Sư lại là người tu hành rất cương quyết dứt khoát, nhẫn lại, quyết trí thực hiện để đạt được ý nguyện của mình vượt qua mọi khó khăn.

Kính bạch Ni Sư: nay vâng lời Ni Sư, con xin chép lại một đoạn Kinh dạy Niệm Phật của Đại Sư Hán Sơn (Trích trong quyển "Quê Hương Cực Lạc" của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm) mà thầy Hải Triều Âm hay đọc để kính tặng Ni sư:

HÁN SƠN ĐẠI SƯ KHAI THỊ

“Mỗi ngày trừ hai thời công phu chỉ đem câu A Di Đà Phật đặt ngay ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê, hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi đến. Chỉ lấy câu Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm trí ăn uống, cử động, đi đứng, nằm ngồi một tiếng niệm Phật này thời thời hiện tiền.

Nếu gặp cảnh thuận nghịch, vui giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem tiếng niệm Phật nhiều lên, liền thấy phiền não khi ấy tiêu diệt. Bởi niệm Phật phiền não là gốc sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu trừ phiền não, liền có thì khỏi sanh tử, không có pháp gì khác.

Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng du, nếu trong mộng đã kiểm soát được thì khi bệnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được "bản thân" trong khi bệnh tật, trừ khi mạng chung liền biết chỗ sanh về.

Sự này chẳng khi cần, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết chỉ cần dựa vào một mình tiếng niện Phật, không có suy nghĩ gì khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đạo an lạc, được đại thọ dụng.”

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Tu Học và Hoằng Pháp của Ni sư, chúng con kính chúc Ni sư và chư Ni chúng chùa Hương Sen thân thương sức khỏe dồi dào, luôn niệm Phật và chia sẻ pháp môn tịnh độ này đến với mọi chúng sanh như công hạnh của Tổ Hám Sơn và Thầy Hải Triều Âm.

 

Con thành tâm kính lễ,

Tịnh Thất Giác Huệ, TX, ngày 18/11/2019

Sadini Diệu Hải
([email protected])





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 15345)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9791)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17805)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15566)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13153)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8545)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 5692)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9406)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 27375)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13410)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.