Tâm Nguyện Hoằng Pháp

21/12/201910:03(Xem: 7256)
Tâm Nguyện Hoằng Pháp


TÂM NGUYỆN HOẰNG PHÁP

 

Thừa tiếp và thắp sáng ngọn đèn chánh pháp, Ni sư Giới Hương đã nổ lực đem hết tâm huyết của mình cho sự nghiệp hoằng pháp độ sanh.

Với hạnh tinh tấn, với trí tuệ thẩm thấu lý sắc không, Ni sư Giới Hương đã không ngừng có những đóng góp qua sự phiên dịch, biên tập và ấn tống rất nhiều kinh sách.

Nói đến sự nghiệp hoằng hóa của Ni sư Giới Hương là nói đến tinh thần nhập thế vì chúng sanh mà phát khởi bi nguyện hóa độ.
Sau gần mười năm du học tại Ấn Độ, đoạn đường học vị Phật học tiến sĩ đã hoàn tất, Ni sư Giới Hương có nhân duyên qua đất Mỹ, tiếp tục con đường hoằng pháp và làm Phật sự. Với sự mến mộ của quý Phật tử, Ni sư đã khai kiến chùa Hương Sen tại tiểu bang Cali.

Hạnh Quang đã có duyên lành gặp Ni sư Giới Hương từ thập niên 1980s gặp nhau ở những lớp Phật học (học Nhị Khóa Hiệp Giải)  với Hòa Thượng Kim Cương và (học Quy Sơn Cảnh Sách) với Thượng Tọa Lệ Trang tại chùa Hòa Bình (quận Phú Nhuận), bốn năm (1990-1994) Đại học Ngữ Văn (Khoa Học Nhân Văn, đường Đinh Tiên Hoàng), cũng như thời gian du học tại Ấn Độ và chúng ta cùng nhau qua Mỹ lần đầu tiên vào ngày 19/09/2015 với Thượng Tọa Nhuận Thông và Thầy Nhuận Dung để dự tham dự hội nghị tại The West University (Phật Quang Sơn tại California, USA). Sau đó, Giới Hương và Thầy Nhuận Dung quyết định ở lại Hoa Kỳ, còn Thầy Nhuận Thông và Hạnh Quang về lại Việt Nam. Từ năm 2016, Giới Hương mỗi năm đều về Việt Nam dạy Phật học viện và lên chùa Diệu Giác để dạy cho Gia đình Phật tử Đức Tâm và nhiều chùa khác. Hạnh quang cũng qua Mỹ mấy lần và đều lên thăm NS Giới Hương và được mời dạy kinh luật cho chúng ni đệ tử của chùa Hương Sen… Chúng ta đã giữ và trân trọng tình thiện hữu pháp lữ linh sơn và hỗ trợ Phật sự của nhau. Hạnh Quang đã học được ở Ni sư Giới Hương gương hạnh tinh tấn và tâm huyết hoằng pháp bắt nguồn từ suối nguồn cam lồ từ bi và trí tuệ sáng ngời của Ni sư.

Hạnh Quang cầu chúc tâm nguyện Bồ đề ấy ngày càng tăng trưởng. Hạnh nguyện hoằng pháp độ sanh của Ni sư Giới Hương lợi lạc cho chúng sanh và hương giới đức lan tỏa khắp muôn phương.

                                                                       
                                    Chùa Diệu Giác, Ngày 10 tháng 12 năm 2019,
                                                                    Thân mến,
                                          Ni sư Hạnh Quang
                                      [email protected]  
                          Giảng viên Trường Trung Cấp Phật Học, Quận 9, TpHCM
 

 

ni su tn gioi huong

Sư cô Liên Hiếu, Ni sư Giới Hương

Ns Giới Hương và Sc Viên Tiến (từ phải sang trái)

Ngày 15/12/2019 Hội Nghị PG Liên Hữu

Tại Anaheim, California, USA

 

 

ni su hanh quang
Ni Sư Hạnh Quang & Ni sư Giới Hương tại Suối đá non bộ rất đẹp

trước khách sạn Fujinobo Kaen, Fuji San, Nhật Bản, ngày 20/10/2017

 

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 12712)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7578)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10303)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9479)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10939)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9418)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8668)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8882)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9945)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10030)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).