Vượt Qua Gian Khó

21/12/201919:03(Xem: 6321)
Vượt Qua Gian Khó

VƯỢT QUA GIAN KHÓ

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Ni Sư Giới Hương kính mến,

 

Từ năm 2010 đến nay, tôi có duyên đi cùng đoàn với Ni sư Giới Hương qua dự lễ Về Nguồn tại Tu Viện Viên Đức (Ravensburg, Germany), cùng nhập hạ với Ni sư Giới Hương tại Phật Học Viện Quốc Tế, Niệm Phật Đường Fremont, Chùa Huệ Quang, Chùa Bảo Quang, Chùa Điều Ngự và cùng tham dự các Khóa Tu Bắc Mỹ, các lễ Phật đản, Vu Lan cộng đồng hay các chùa miền nam Cali, nên chúng tôi cũng như nhiều chư tôn đức đã biết Ni Sư Giới Hương có nhiều năng lực học hàm cao như  Tiến sĩ Phật học, cử Nhân văn chương và có sự tu tập cùng chí nguyện hoằng dương Phật Pháp rất đáng khuyến khích.

Tính từ năm 1975 đến nay, thế hệ Ni giới thứ nhất tính như Ni trưởng Nguyên Thanh (Chùa An lạc), Sư Bà Diệu Từ (Chùa Diệu Quang), Ni trưởng Như Hòa (Chùa Dược Sư), Ni trưởng Giác Hương (Chùa Vạn Hạnh)… Tôi thấy Ni sư Giới Hương (chùa Hương Sen) là một vị ni thuộc thế hệ thứ hai cùng với những vị Ni sư khác ở Mỹ như Ni Sư Giới Châu (Chùa Quang Minh), Ni sư Nguyên Thiện (Chùa Huyền Không), Ni Sư Thanh Lương (Chùa Viên Thông), Ni Sư Như Phước (Chùa Đức Viên), Ni sư Tiến Liên (Tịnh Xá Ngọc Hòa)…có nhiều ưu điểm năng nỗ chịu dấn thân hội nhập vào văn hóa và trường học Mỹ để thích nghi trong môi trường mới.

Hoàn cảnh ở Mỹ được đi học là khó, lập chùa là khó, duy trì được chùa là khó, độ ni chúng là khó, hoằng pháp xa gần cũng khó, trong tù hay ngoài xã hội, trong hay ngoài nước, đãm đang dẫn đoàn hành hương… vô vàn cái khó mà quý ni sư thân nữ đã dấn thân làm và vượt qua.

Chúng tôi rất hân hạnh xin được có lời chúc mừng Ni Sư Giới Hương đã trải qua thời gian dài 40 năm cống hiến cho Phật pháp. Nhân dịp kỷ niệm làm Tuyển tập “40 Năm Tu Học và Hoằng Pháp của Ni Sư Giới Hương” này, xin kính chúc Ni sư có nhiều sức khỏe và giữ vẹn chí nguyện, tiếp tục vượt qua mọi  khó khăn thử thách để thành tựu ý chí trượng phu độ sanh của mình.


Nam Mô A Di Đà Phật

 

 

                                       


Staton, California, ngày 18/12/2019
Viện Chủ Phật Quan Âm Thiền Tự,
Tỳ Kheo T Tâm Thành
 

ht thich tam thanh


Hòa thượng Tâm Thành và Sư Bà Diệu Từ

 

ht thich tam thanh-2

Hòa Thượng Chơn Minh và Hòa thượng Tâm Thành

Cùng gia đình Ni sư Giới Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10142)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9106)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10599)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9079)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8551)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8705)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9798)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9851)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12770)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8234)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.