Thầy là con thuyền Thanh lương

24/03/201608:45(Xem: 10553)
Thầy là con thuyền Thanh lương

 

HT Huyen Ton (21)Thầy là con thuyền Thanh lương 

Kính dâng HT Tăng Giáo Trưởng

 

Đã mấy chục năm qua kể từ ngày con rời xa quê Mẹ Việt Nam, đến định cư ở một xứ sở mới, cuộc sống có nhiều cái rất khác so với quê hương mình. Tuy là khác xa, nhưng con vẫn có thể đi Chùa, tụng Kinh, lễ Phật và tham gia nhiều Phật sự trong những ngày lễ lớn, đó chính là nhờ vào ân đức của HT, vì HT là một trong số ít tu sĩ VN đặt chân đến Úc này sau năm 1975 và bắt đầu gầy dựng lại ngôi nhà của PGVN.

 

Úc Châu, một đất nước mà khi ra đi, con nghĩ là không có chùa, không có Thầy và chắc là cũng không có Phật và khi rời đất nước ra đi cũng có nghĩa là từ nay con sẽ không còn đến chùa nữa, không còn nghe tiếng Đại Hồng Chung gióng lên từng hồi trong những ngày lễ lớn, hay tiếng Trống Bát Nhã vang lên dồn dập từng chập để cung nghinh Chư Tôn Đức quang lâm khai lễ hội.  Đó là một trong những cảm giác mất mát lớn lao mà một Phật tử thường đi Chùa như con không sao tránh khỏi.  

 

 “Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng,

 Ra đi ai chẳng nhớ Chùa chung…”

 

Vậy mà khi  đến Úc sống ở Sydney, con không kịp có thời gian để nhớ “chùa chung” vì chỉ một tuần sau, con được hân hạnh tham dự lễ Khánh thành Chùa Pháp Bảo, biết làm sao để nói hết nỗi mừng vui nầy. Còn vui hơn nữa vì sau khi sống ở Úc một thời gian, con biết ngoài chùa PB còn có thêm các chùa khác cũng do quý Thầy, từng người sau khi rời trại tị nạn đến miền đất mới mang theo tâm nguyện “Kiến pháp tràng ư xứ xứ” đã được các Phật tử  đến trước, từng bước hỗ trợ quý Thầy tạo lập nên những “mái chùa chung” như vậy. Riêng HT Tăng Giáo Trưởng, người đã thành lập GHPGVN đầu tiên ở Victoria từ năm 1981 như một nền tảng, để đến năm 1983 thì Ngài thành lập GHPGVNTN Úc Đại Lợi & Tân Tây Lan và năm 1999 thì GHPGVNTNHN UĐL-TTL thành lập tại chùa PB và đã chánh thức sinh hoạt với danh xưng nầy cho đến nay. Sau bao nhiêu sóng gió đã nói lên được tinh thần đoàn kết và ý chí dõng mãnh của người Trưởng tử Như Lai.  Chúng con đến sau  được thừa hưởng những thuận lợi sẵn có mà những người đi trước như Ngài đã đổ bao tâm huyết để hình thành và xây dựng nên ngôi nhà Phật pháp ở hải ngoại được vững vàng và mạnh mẽ như ngày nay…

 

Con ở xa không có phước duyên kề cận để được nghe HT dạy bảo như các đệ tử ở cùng trú xứ với Thầy, những lời khai thị của HT trong các khóa Tu, với chúng con những lời giáo hóa đó như kim chỉ nam và nghe  pháp âm của Phật do HT trùng tuyên, đôi khi trực tiếp mà nhiều khi cũng gián tiếp qua trang nhà  Quảng Đức. Những quyển kinh Phật do HT dịch, những bài thơ HT làm, những truyện ngắn mà HT viết…đã giúp đỡ nhiều cho những người học Phật sơ cơ như chúng con. Trong một buổi Văn nghệ mãn khóa An Cư năm 2014 ở TVQĐ, nghe Thầy Hạnh Phẩm ngâm một bài thơ " Tuổi Tức Từ" của HT đã làm cách đó cũng đã 45 năm, con không sao tránh khỏi bùi ngùi xúc cảm. Cuộc đời tu hành của HT (cũng như nhiều vị Tôn túc khác) đã gắn liền với đạo Phật và tùy theo sự thịnh suy của dân tộc, đất nuớc mà đạo pháp cũng theo vận nước nổi trôi, người tu hành cũng không tránh khỏi cảnh truân chuyên khổ lụy.

 

 Rời xa đất nước, những năm đầu đến Úc, định cư ở Melbourne, HT hầu như đã một mình gánh vác trọng trách một Trưởng tử Như Lai, mượn đất nhà Thờ tổ chức lễ Phật Đản, lễ Vu Lan cho Phật tử mình có nơi quy tựu, làm lễ tưởng nhớ đến ngày Đản sanh của đức Từ Phụ, tưởng nhớ Công ơn Cha mẹ sinh thành dưỡng dục, mà thuở đó quê hương như cách biệt ngàn trùng… Thời gian nầy con chưa có mặt trên đất Úc, nhưng con cũng hình dung được những khó khăn muôn vàn mà Hòa Thượng phải đối đầu để mong có thể đem giáo lý nhiệm mầu của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni xiển dương nơi vùng đất mới, để những người con xa quê xích lại gần nhau, để có tiếng nói của những người con Phật trong căn nhà chung nhiều tôn giáo, nhiều sắc tộc, làm sao để cho trong môi trường mới, nếp sống mới, người con Phật vẫn có thể  “hòa nhi” dù “bất đồng”…

 

Tuy không cận kề Thầy, con vẫn  thầm lặng chiêm ngưỡng Thầy từ xa, đôi khi qua ống kính nhỏ bé của máy chụp hình, như vậy tưởng cũng quá đủ cho phước duyên của con. Ngắm nhìn HT qua ống kính, con phát hiện ra Thầy tuy tuổi hạc đã cao nhưng không thấy nét già nua mệt mỏi, tôn nhan Thầy vẫn sáng ngời như trí tuệ uyên bác của Thầy, bước chân Thầy vẫn chậm rãi ung dung tự tại, giọng nói của Thầy vẫn mạnh mẽ vui vẻ và nếu cần Thầy vẫn pha trò cho sự việc nhẹ nhàng, thông qua mà không căng thẳng, chúng con vẫn thường cười vui với những câu pha trò ý nhị của Thầy. Khi cần dạy cho ai đó một bài học, Thầy vẫn điềm đạm ôn tồn vậy mà công dụng những lời nói nhẹ nhàng đó vẫn vang dội như tiếng chuông đồng, như  “Sư Tử Hống” và kẻ lãnh hội bừng tỉnh lãnh nhận, cảm phục đức độ Thầy mà không hề thấy tổn thương hay buồn giận …

 

Hơn 30 năm qua, Phật giáo Hải ngoại đã có Thầy, đã nhờ Thầy mà lớn mạnh nở hoa trên đất người và cũng nhiều lần nhờ lòng từ bi và trí tuệ của Thầy mà chúng con thoát được những tai ách thị phi, bỉ thử của những kẻ không biết vì sao mà như có thù truyền kiếp với Phật giáo. “Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son, Thầy là con thuyền Thanh lương đưa chúng con tới bờ an vui”. Bài hát nầy, chúng con hát hoài, nghe hoài mà vẫn không chán, vì Thầy đúng là như vậy.

 

Chúng con nguyện cầu ơn trên Chư Phật luôn gia hộ Thầy, Pháp thể khinh an, Thọ mạng miên trường, Tuệ đăng thường chiếu, Pháp Trí nhị nghiêm để hộ trì Chánh pháp, Thầy là Thiền môn Thạch trụ để hàng đệ chúng con được nương nhờ, là bóng mát cội Tùng che chở chúng con.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sydney Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Diệu Hòa Ngọc Dung

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/05/2012(Xem: 12435)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9262)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 24608)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 13250)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8686)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.
31/03/2012(Xem: 9647)
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, tự Liễu, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chơn Loan. Năm lên 3 tuổi, thân phụ Ngài qua đời, thân mẫu tảo tần nuôi con và cho Ngài theo học chữ Nho với các cụ đồ trong làng, được 5 năm mới chuyển sang học Việt văn.
23/03/2012(Xem: 8840)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
21/03/2012(Xem: 9107)
Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng của các Phật học viện Báo Quốc Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn. Cuộc đời của Ngài phần nhiều cống hiến cho việc đào tạo tăng tài và sự nghiệp hoằng pháp cho Đạo Phật Việt Nam hơn là những lãnh vực phật sự khác.
10/03/2012(Xem: 10215)
Hòa thượng thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tị (1881), nhằm vào năm thứ 33 đời vua Tự Đức triều Nguyễn tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Do túc duyên nhiều đời nên Ngài sinh vào gia đình chánh tín Tam Bảo. Thân phụ là Cụ ông Dương Thi An, pháp danh Chương Thái, hiệu Quảng Liên và Thân mẫu là Cụ bà Đỗ Thị Toại. Tuổi đồng ấu, Hòa thượng có tướng mạo rất đoan nghiêm, thông minh khác chúng. Lên 10 tuổi, Ngài có ý định xuất gia nên song thân đưa Ngài đến chùa Hội Phước tại xã Thanh Chiêm, huyện Điện Bàn, Quảng Nam để tu học với Hòa thượng Như Lý-Hoằng Khâm.
10/03/2012(Xem: 9970)
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòathượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa QuánSứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.